Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Nỗi lo xưa cũ

1. Chị gái thứ hai ở quê gọi điện "...Con là con của chị nhưng là cháu của cậu, cậu xem có nơi mô kiếm cho nó cái việc làm, chừ kiếm việc ở quê khó lắm cậu ơi...". Đứa cháu lớn nhất trong các đứa cháu của tôi đã tốt nghiệp tốt nghiệp đại học. Nó đang đối mặt với thất nghiệp.


Chị cả, gọi điện giọng lo lắng "... Cậu coi tư vấn cho cháu nó thi trường mô thì hợp thời, anh chị nỏ biết trường mô cả, với lại, đại nào cũng là đại học cả, miễn chi là chính quy. Sau ni còn kiếm cái việc câu cơm chứ ở quê, không học là không ổn cậu ơi...". Mấy hôm rồi, mẹ con đi thi vở Vinh, cháu nó làm bài tạm ổn, ước được 6,5 điểm/môn. Cháu đi thi, cả họ nội ngoại đều nơm nớp, lo lắng. Cha mẹ thì ... còn hết hồn.

Chị dâu gọi, bảo "Chị mong cho mấy đứa lớn tê thi đậu hết để thằng cu Bin noi gương, cứ theo chú là .. ổn hết, chú hè".... Một nỗi lo tiềm ẩn.

Đêm qua, gọi cho bố, bố nói mấy hôm nay không ngủ được, cứ lo lo đứa cháu thi cử. Chẳng hiểu sao cứ bồn chồn cả ngày.

Đứa cháu thi ở Vinh, thi xong môn đầu tiên, ra khỏi phòng thi nó gọi ngay cho tôi để thông báo "khoảng được hơn 6 điểm cậu à, trừ hao đi là chắc 6 điểm, giọng nó buồn buồn". Tôi cười, động viên nó và "dụ dỗ" nó thực hiện theo chiến thuật làm bài đã trao đổi với nó. Toán 6 điểm, Lý 6 điểm, Anh 8 điểm: Kiểu chi cũng đỗ đại học. Cháu cười, nụ cười lo lắng, tự dưng tôi thấy mình đang gây áp lực lên nó. Cháu bảo “Ước chi khỏi phải thi, cứ như bên Tây họ mần lại hay”. Quái lạ, đứa teen teen lại biết chuyện thi cử bên tây?!

Sáng nay đi làm, trên đường Trương Định, thấy mấy cô cậu sinh viên tình nguyện cứ chạy xe từ đầu phố đến cuối phố rồi vòng trở lại, tôi hỏi một cậu, cậu trả lời "tụi cháu đứng đây từ 5h sáng chú ạ, đi tuần để xem có trường hợp nào đi thi đại học cần hỗ trợ không thì giúp người ta ngay". Cậu cười, nụ cười tươi mới, tự tin và hãnh diện.

Mấy hôm trước, xem tivi, thấy Bộ đội tăng thiết giáp còn lấy cả thiết giáp lội nước ra để phục vụ thí sinh đi thi đại học ở Thái Nguyên. Đọc báo, thấy Cảnh sát giao thông Hà Nội còn tình nguyện làm xe ôm chở thí sinh đến điểm thi trong khi đang làm nhiệm vụ, ngay cả phòng ở của chiến sỹ cũng thu xếp cho thí sinh ở nhờ không mất phí. Ở Sài Gòn, năm nào cũng vậy, mấy quán cơm thiện nguyện lại nô nức mở hàng để đón thí sinh ăn cơm, nếu có lấy tiền thì cũng chỉ 2-5 ngàn một suất. Còn bữa ăn đô thị nào rẻ hơn chăng? Còn nhiều hành động thiện nguyện trên cả nước để phục vụ cho thời vụ thi cử hàng năm.

Hàng năm, cứ đến tháng 7, nắng cồn cào, gần hai triệu thí sinh đổ về các đô thị tại các khu vực để dự thi. Một kỳ thì đã tồn tại mấy chục năm nay, ít thay đổi về hình thức. Hình như, càng ngày càng áp lực lên thí sinh học trò và cả người thân. Mà phải, thi cử đại học chứ chơi đâu nên một bộ máy khổng lồ phải được vận hành theo thi cử. Cha mẹ, có khoảng gần hai triệu người cha - mẹ đang lo lắng với tương lai của con mình. Nỗi lo thấp thỏm theo nét mặt của con khi ra khỏi phòng thi. Tôi bổng dưng thẩn người nhẩm tính, cứ một người đi thi tiêu tốn hết 500.000 đồng thì 2 triệu thí sinh đi thi sẽ chuyển vào chi tiêu đúng 1.000 tỷ đồng. Ôi chao, có khoản tiêu dùng nào trải rộng cả nước lớn như vậy không? Các nhà lập chính sách kích cầu âm thầm cảm ơn thi đại học.

Thẩn nghĩ, sao đời người cứ cơ cực với các cuộc thi thế nhỉ? Tại sao không thay đổi cách tuyển sinh theo một cách khác?

2. Cái việc thi cử âu cũng là bắt nguồn từ lịch sử của dân tộc Việt Nam. Hơn 2000 năm trước, các cụ gọi là Khoa bảng. Cái thời mà Nho học được đẩy lên làm chân trí tuệ, nhân cách cho con người. Gần một nghìn năm thi cử Nho bảng, triều đình của các triều đại thường tổ chức để chọn người làm quan. Ai đỗ đạt thì cho vào Khoa cử, được làm quan to, hầu hạ vương triều, kiến tạo đất nước. Ngày xưa, thi hương, thi hội, thi đình là những kỳ thi danh giá. Ai đỗ đạt thì rạng danh gia tộc, làng xã.

Lịch sử ghi chép rằng, thời nhà Lý, triều Lý Nhân Thông (ất mão, 1075) đã tổ chức thi Tam trường đầu tiên để chọn người tài. Thủ khoa Lê Văn Thịnh là người đỗ cao nhất, sau này được bổ vào chức Thái sư ở triều đình. Tuy nhiên, vị Thái sư này có một cuộc đời cay nhục mà đến nay, sử sách cũng chưa rõ tường vụ án Lê Văn Thịnh phản nghịch triều đình?!

Về sau, các triều vua Lý cho lập Quốc Tử Giám là nơi đào tạo người làm quan, thờ Khổng Tử và Chu Văn An. Văn Miếu Quốc Tử Giám ghi danh sử sách các vị tiến sỹ qua các thời kỳ trên bia đá.

Học cách làm của người xưa, một thời có mấy vị tiến sỹ hò nhau lập nơi ghi danh các tiến sỹ thời hiện đại. Nỡm ạ, cứ học theo các cụ ngày xưa, khó vạn lần. Các cụ xưa uyên thâm lắm, đừng nhìn thấy cái hiển hiện trước mắt mà bắt chước. Nhầm đấy.

Đến triều vua Khải Đinh (1919) chấm dứt thi khoa bảng. Triều phong kiến dần lụi tàn.

Xưa kia, cụ Ngô Tất Tố đã viết trong tác phẩm Lều Chõng "Ngày nay nghe đến hai từ "lều chõng", có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ vì những từ ấy từ biệt chúng ta mà đi tới chỗ mất tích đã gần ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở lên, cho đến hơn một nghìn năm, "lều", "chõng" đã làm chủ vận mệnh của giang sơn cũ kỹ mà người ta tán khoe là "bốn nghìn năm văn hiến". Những ông ngồi trong miếu đường làm rường cột cho nhà nước, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám "lều chõng" mà ra. Lều chõng với nước Việt Nam chẳng khác một đôi tạo vật đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hay vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa. Rồi lại chúng nó đã đưa nước Việt Nam đến chỗ diệt vong. Với chúng, nước Việt Nam trong một thời kỳ rất dài kinh qua nhiều cảnh tượng kỳ quái, khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rụng rời hồn vía. (Ngô Tất Tố, Thời vụ số 109 ra ngày 10-3-1939)"

3. Cái thời, tài năng của một con người được tính bằng khoa bảng, đỗ đạt qua các kỳ thi đã từng làm nên nét văn nước Việt. Văn học, văn hoá, đời sống tinh thần người Việt dường như có cái gì đó xưa cũ. Kinh thành, đô thị Việt xưa được phát triển lên từ làng, hoặc kẻ chợ. Người đến, người đi cũng từ làng xã mà ra. Đau đáu trong tâm hồn Việt là hình ảnh làng quê với luỹ tre, dòng sông, tiếng gà gáy và khói bếp lam chiều. Khoa bảng rồi vào làm quan nhưng tư tưởng làng, văn hoá làng vẫn giữ lại. Người xưa, trầm tư trước phát triển của đô thị, chợt thấy mất nhiều thứ, buồn man mác buồn vì cái cũ kỹ nay còn đâu.

Người xưa thi, đỗ đạt, ắt hẵn được cắt cử làm quan, người xưa trọng dụng hiền tài lắm. Người nay, cả triệu người đi thi để thoả ước mong của các đấng sinh thành, mấy nhóc đi thi chắc gì đã ước mơ cháy bỏng với một tương lai tươi sáng.

Thi thời nay, để lựa chọn người tài hay để lọc bỏ người học kém? Thi thời nay, là một mớ kiến thức sách vở tích tụ suốt 12 năm miệt mài, cuộc thì nào hướng đến trí tuệ cảm xúc của con người? Cái nhạy cảm, cái tư duy hay cái tươi mới của con người có được đem vào bài thi ư? Sau một cuộc thi đại học, sẽ có khoảng 1,4 triệu người tham gia lao động trực tiếp, còn lại, 600.000 người tiếp tục miệt mài bài vở tại các trường đại học, cao đẳng. Cái sức trẻ của đất nước được nén vào mấy năm học. Mong chăng, với sức vóc của các bạn, những người trẻ đang dần bước vào cuộc đời sẽ đầy hy vọng, tràn trề, mỗi người một nghề và tiếp bước dấn thân để trải nghiệm.

Thi cử, cứ đến tháng 7 hàng năm, nỗi lo xưa cũ lại ùa về. Những vỡ oà hạnh phúc, những giọt nước mắt tiếc nuối, những “nếu mà …” lại xảy ra. Những bước chân nặng nề của bậc sinh thành cùng thì sinh lên đường về lại miền quê xa ngái trong chiều hạ muộn, giông gió sắp về.

Ngày xưa tôi đi thi, bố bảo đúng 1 câu “Thi đậu thì tiếp tục học làm người, không thì đi làm, con tự kiếm sống được.”. Còn mẹ, ngày tiễn tôi lên đường nhập học, mẹ dặn “Chí thú học con nhé, đừng quậy quá làm mẹ mệt”. Tôi nhớ mãi giọt nước mắt lăn dài trên gò má rạm nắng của mẹ, ánh mắt long lanh, tự hào.

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

Ngày xưa mẹ gọi "Tháng bảy về rồi con nhé"

Tôi hay đi, nhiều khi đi cả năm mới về. Về vài ngày lại đi, có những cái tết xa nhà vời vợi trên đại dương. Quê tôi, tháng 7 về, nắng vẫn hầm hập nóng. Tụi học trò lên đường đi thi đại học ở nam ngoài bắc cả trung. Ai cũng vội vàng, hồi hộp, lo lắng. Ngày trước, tôi đi thi đại học, mẹ gọi tôi về, mẹ bảo "Trước khi con đi, ra mộ thắp hương viếng chú". Nhà tôi, có người chú là liệt sỹ. Tôi đi thi, bà nội 95 tuổi vẫn lầm rầm trước một chú khấn mong chú phù hộ độ trì cho cháu đi thi đỗ đạt.
Tháng 7 về, quê tôi nắng rát bàn chân, nhiều người lính nay đã già vẫn đi về viếng mộ đồng đội. Có những người mẹ già đôi mắt ngấn lệ ngồi thì thầm bên phần mộ của con với tràn yêu thương và trắc ẩn. Tôi đã từng chứng kiến người lính già đứng giữa nghĩa trang Trường Sơn gọi tên từng đồng đội rồi nấc lên "Đồng đội tôi đâu hết rồi, bỏ tôi đi hết rồi sao?".
Quê tôi, tháng 7 về, mẹ làm lễ viếng liệt sỹ, bố trầm ngâm lẩm nhẩm những bài ca cách mạng. Thi thoảng, một vài người lính năm xưa ghé thăm, trò chuyện đến khuya. Hồi bà nội còn sống, những ngày này, đồng đội của chú lại về thăm, gọi bà nội là Mẹ. Bà khóc, nước mắt đã cạn rồi, chỉ còn lại khoé mắt đầy vết chân chim. Những người lính năm nào đã vào sinh ra tử về bên Mẹ, tíu tít gọi Mẹ như những ngày ấu thơ.
Tháng 7 về, mùa của tri ân và thức tỉnh tâm hồn.

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Canh chua

Hồi còn mẹ, mẹ biết tôi chỉ thích ăn canh chua mẹ nấu. Mỗi lần về quê là mẹ lại đi chợ sớm để mua cá biển tươi về nấu canh chua. Quê tôi, chẳng có người mẹ nào mà không biết nấu canh chua cả, ngay cả đứa cháu mới học lớp 9 thôi mà nấu canh chua ngon tuyệt. Mẹ, chị gái, chị dâu, mấy anh em trong nhà đều có thể nấu món canh chua cá biển ngon khó nơi nào khác sánh được.
Tôi khó tính trong việc ăn uống. Đó là thực tế. Ngày trước, mẹ hay nói "Quê mình chỉ khi lụt lội mới mua thịt" nên quanh năm chỉ ăn cá biển tươi mới đánh lên từ sáng sớm mai. Tôi đi nhiều, đi xa, vẫn nhớ hương vị món canh chua mẹ nấu. Thoang thoảng vị chua cay và mặn mòi của biển, hơn tất cả, là cả yêu thương của mẹ dành cho gia đình, mẹ đem yêu thương vào cả món ăn hàng ngày.
Tôi đi học xa, ở một mình, mẹ hay bày cho tôi cách nấu các món ăn, mà lạ, tôi chỉ nhớ mỗi cách nấu món canh chua. Về sau, lớn lên đi công tác, hay nhậu nên học được món canh chua cá lóc của người miền Nam, còn canh chua miền Bắc, ừm, cái vị nó không hợp với tôi.
Còn mẹ, là còn cả hương vị quê nhà, còn thương yêu và che chở. Với tôi, món mẹ nấu vẫn là nhất. Đi khắp nơi mọi chốn vẫn nhớ món ăn của mẹ, nhớ từng vị chua, cay, mặn, ngọt.
Tôi trở nên khó tính với các món ăn vì đã ăn nhiều món mẹ nấu. Cách mẹ nấu chẳng có gì là phức tạp hay nghệ thuật nấu nước, chỉ đơn giản thôi, mẹ đem yêu thương vào cả món ăn hàng ngày.

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

Những giấc mơ ấm áp

Từ ngày mẹ mất, cũng đã gần 2 năm, tôi hay mơ thấy mẹ, những giấc mơ ngắn và ấm áp. Để rồi, khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang khóc. Những giấc mơ cứ lặp lại. Phải chăng, ẩn khuất trong tôi là nỗi nhớ mẹ cồn cào. Từ ngày mẹ mất, mỗi khi nghĩ đến mẹ là tôi cảm thấy ngấn lệ đôi mắt. Tôi cứ nhớ về những ngày xưa cũ, rộn ràng và ấm áp khi bên mẹ.
Đêm qua, tôi mơ thấy bố, bố đứng bên tôi khi tôi đang mếu máo vì nhớ mẹ. Tôi nói với bố "Con sợ lắm, một ngày nào đó bố lại đi theo mẹ, còn lại con một mình không nơi bấu víu khi vui buồn". Bố bảo "Ai già đi mà chẳng về với đất, phận người ai cũng buồn vui. Mai này con già đi thì con của con cũng nhớ con".
Với bố, bố là người cha lặng lẽ bên con, luôn dõi theo con trên những chặng đường gập gềnh nắng gió. Ông vẫn là người mà luôn cho phép tôi nhậu đến say lăn quay và trở về nhà. Tôi sợ, sợ một ngày nào đó, không còn ông trên cõi đời này.
Những ngày thơ bé, mẹ hay bảo "Con giống bố, ương ngạnh và khó chiều", còn bố thì bảo "Mày giống mẹ y chóc, kỹ tính và gọn gàng". Bé thơ, cả một thời trẻ con tôi gần mẹ hơn bố, bố mãi bôn ba với núi rừng để kiếm tiền nuôi con, bố vẫn đi về hàng tháng từ cánh rừng già đại ngàn Trường Sơn.

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Ầu ơ cánh võng: Đâu rồi tiếng ru

Tôi nhớ mãi năm 2002, trong một chuyến vận chuyển hàng siêu trọng đến một vùng quê huyện Lệ Thuỷ, Quảng Bình. Hôm đó, tôi được giao nhiệm vụ đi tiền trạm về tuyến đường để phục vụ cho chuyến vận tải hạng nặng đi qua khu vực nông thôn. Đó là một đêm mùa hè nóng nực.
Để thiết bị được đi qua, tuyến đường đi bị vướng nhiều dây diện dân dụng nên buộc phải cắt điện toàn lưới điện của cả một huyện trong khoảng thời gian 1 tiếng. Chúng tôi đi trong đêm giữa cái nóng hầm hập lúc 12h đêm, khi đến gần giữa làng, chợt nghe tiếng trẻ nhỏ khóc, chúng tôi đi bộ nhẹ nhàng để tránh tiếng động làm mất giấc ngủ của người dân. Một lúc sau, chợt nghe tiếng ... "ầu ơi, con ngủ đi con, Kiến Giang nước chảy về đông miệt mài...". Chỉ một lúc là tiếng trẻ hết khóc. Ai trong chúng tôi, những thằng thanh niên đã từng lội biển, ngủ rừng, ... chợt lặng người đứng nghe tiếng hát ru của người mẹ. Tên nào cùng chợt nhớ mẹ, nhớ tuổi thơ mình đầy tiếng hát ru.
Bà nội tôi, bà không biết chữ, nhưng thuộc rất nhiều bài hát ru. Thủa nhỏ, tôi được bà hát ru và nằm võng. Mẹ tôi, chẳng thể biết bà học khi nào, mỗi tối trước khi đi ngủ hay là ban trưa nóng nực, mẹ vẫn hát ru. Những bài hát có cánh đồng, có con cò, dòng sông. Lời ca có lòng yêu thương và trắc ẩn, từ tâm và đôi lúc buồn. Cha tôi, ông hát ru cháu duy nhất đúng 2 bài, vậy mà mấy đứa cháu đứa nào cũng đòi được ông hát ru cho nghe.
Tôi, có 2 cậu nhóc, hò hét ầm ào cả ngày, chí chéo dành nhau nằm cạnh bố để được nghe bố hát ru. Nhiều bài hát ru trong đó do tôi tự chế, vậy mà chúng vẫn thích. Có hôm chúng đòi hát lại bài hôm trước, thế là chịu.

...còn tiếp...

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Đĩa than: Tiếng của thời gian

Công nghệ ghi âm thanh trên đĩa than có từ gần 100 năm trước. Hơn 30 năm trước tôi đã có cơ hội nghe tiếng nhạc ghi trên đĩa than phát ra từ chiếc loa kèn cũ nát của ông lão già hàng xóm. Tôi nhớ mãi thứ âm thanh kỳ bí đó cho đến ngày nay. Có lần, được dịp vào Nhà hát lớn tại Hà Nội, tôi cảm nhận lại được thứ âm thanh quyến rũ này.
Phải công nhận, vướng vào thứ âm thanh này đòi hỏi nhiều "kỳ công" và "kiên nhẫn". Mỗi một việc lau chùi, hút bụi thôi cũng đã là một công đoạn "cực kỳ quan trọng" để có được âm thanh mộc, nguyên bản ghi. Cha tôi, hôm rồi rời miền Trung nắng rát ra Hà Nội, chỉ mới nhìn qua ông đã bảo "Chết chết, nghe cái ni một hồi là nghiện không rứt ra được". Bố vợ thì chắc đang âm thầm sung sướng bởi đã tìm được "truyền nhân" để cùng ông thoả lòng đam mê âm nhạc Nga.
Âm thanh - mớ nhạc cụ "hỗn độn" này - tôi chẳng hiểu tí mô tê gì cả, chỉ biết rằng, giai điệu và âm thanh phát ra từ cái đĩa than cũ kỹ kia có sức hút kỳ lạ. Nghe CD, dường như ban nhạc hay nhạc công chơi nhạc theo nhịp hát của ca sỹ, còn đĩa than, dường như ca sỹ thể hiện bài hát theo tiết tấu của nhạc công. Tiếng hát của ca sỹ có khả năng trùm lên tiếng nhạc - nghe rất thật giọng. Tiếng nhạc trên CD như một người phụ nữ đã được tỉa tót, dao kéo, phấn son cho nhan sắc của mình - họ xinh đẹp khi bạn ngắm thoáng qua, khi bạn xem đó là thứ bổ sung cho cuộc sống vốn ham muốn của bạn. Còn đĩa than, như người phụ nữ, người mẹ, người vợ chung tình, mộc mạc và nồng nàn - họ đẹp trong con tim của bạn, nhan sắc của họ có thể già đi theo năm tháng nhưng tình yêu của họ dành cho bạn (và cả bạn dành cho họ) thì càng tăng lên theo năm tháng của cuộc đời.
Âm nhạc - cơ bản là sự hoà trộn của những nhạc cụ với nhau để có được một giai điệu của một bản nhạc. Những bản nhạc cổ điển mang tính kinh điển bác học hay những bản nhạc tự chế khi ôm đàn của người nghệ sỹ cũng chỉ nằm gọn trong mấy nốt nhạc Đồ - Rê - Mi - Fa - La - Sol - Si, tương đương với 7 cung thể âm nhạc.
Hiện có nhiều người chơi âm thanh và có rất ít người biết nghe nhạc. Chơi âm thanh là một thú chơi sành sỏi và tốn rất nhiều công - sức - tiền, đó là một thú chơi cầu kỳ (không hoặc chưa đến mức xa xỉ). Để theo được thú chơi âm thanh, nhiều tiền, tỷ mẩn chưa chắc đã chơi được vì còn phụ thuộc vào "mức - độ - nhạy - của tai". Bên cạnh đó, còn phải sắm cho mình "mớ" xúc cảm đặc biệt đối với những bản nhạc cụ thể. Thế mới khó.
Người chơi âm thanh nghiệp dư - nói chung - có đam mê - nhưng đam mê thường ngắn. Nhiều người chơi theo phong trào, theo mốt hoặc thấy người khác có mình cũng sắm một bộ cho nó hoành. Những tay chơi có tiếng thường có đam mê, có am hiểu về âm thanh và một chút âm nhạc. Bằng không, được vài tháng lại chán ngấy, rồi lại than thở.
Audiophile, hi-end, hi-fi, stereo hay cái từ thuật ngữ gì đó cũng chỉ là cách gọi tên cho mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn của công nghệ âm thanh. Một bộ thiết bị âm thanh tốt sẽ cho ra thứ âm thanh thực chất đúng như khi đang trình diễn trước mặt. Bộ âm thanh tốt (tuỳ vào từng người) chưa chắc là một bộ đắt tiền (mà thường thì đắt tiền lại rất hay) và một bộ đắt tiền chưa chắc đã tốt với vài bản nhạc nào đó.
Khi sắm một bộ âm thanh để thưởng thức âm nhạc, nhiều người lại rơi vào tình trạng "săm soi đặc tính kỹ thuật của thiết bị". Hừm, đó chỉ là các thuật từ do người bán hàng dựng lên bên tai người mua. Một vài người bán hàng rất am hiểu về âm thanh, âm nhạc và công nghệ âm thanh sẽ tư vấn tốt nhất cho người mua với một bộ âm thanh hợp lý. Rất nhiều người bán hàng đã nói với tôi những từ như "con này gấu lắm, tiếng bass cực gấu", "tiếng trung trong vắt", "tép thanh mảnh", "chân jack loa mạ vàng", "củ loa hoành lắm". Thực chất, người mua sẽ không phân biệt được các thuật ngữ đó như thế nào cả, đặc biệt, khi họ vào phòng nghe hoặc phòng trưng bày của người bán để nghe những bản nhạc đã thửa riêng. Tôi đã nhiều lần hỏi lại người bán hàng "gấu là thế nào? tép thanh là sao?" họ chịu - những người bán hàng thiếu am hiểu về sản phẩm.
Để sắm cho mình một bộ âm thanh phù hợp, những bản nhạc yêu thích thì người mua bên sắm cho mình trước một vài thông tin cơ bản về như âm vực, trường độ, cao độ, nhịp độ, và cao hơn có thể là tẩu pháp.
Hãy lắng nghe con tim và cảm xúc của mình, bạn có thể chỉ yêu thích một thể loại nhạc nào đó mà thôi (như tôi - khó có thể nghe được rock hoặc sắc - xô - phôn vì cái tai tôi nó không hợp với thể loại đó).
Nghe nhạc, cần lắng nghe giai điệu của bản nhạc để nhận ra cảm xúc của người nghệ sỹ, của tác giả bản nhạc đó. Sau cùng, hãy thưởng thức bộ thiết bị âm thanh của bạn khi nó tái tạo lại tiếng của những nhạc cụ và giọng của người ca sỹ.
Nếu bạn chưa một lần đến rạp hát để nghe và xem trình tấu nhạc giao hưởng hoặc thể loại nhạc cổ điển thì bạn khó có thể nghe được nhạc cổ điển. Không tin ư, thiệt đó. Vì bạn không nhận thấy được sự phân bổ âm thanh của dàn nhạc trong một rạp hát, bạn không cảm nhận được cảm xúc của nghệ sỹ hát opera khi bạn chưa bao giờ nhìn thấy cảm xúc của họ trên sân khấu.
Có một thứ âm thanh, âm nhạc trung thực, analog 100%, chả khác gì nhà hát cả: Tiếng nhạc của ban hầu đồng. Tiếng chũm choẹ, tiếng trống, tiếng nhị, sáo, mõ...mỗi thứ lại rộn ràng, réo rắt, nỉ non ĩ ôi theo nhịp hầu giá đồng.



Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Đu dây điện với lạm phát

Trước hay sau: Lạm phát hay Lãi suất

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Ảo giác tiền tệ: Góc nhìn từ tăng lương cơ bản

Khái niệm Ảo giác tiền tệ là một lý luận của nhà kinh tế học Jonh M. Keynes trong việc chứng minh giá trị của đồng đô la và các loại đồng tiền khác. Lý luận cho rằng, chủ thể kinh tế khó có thể hoặc không thể nhận thức được giá trị thực của đồng tiền, sự tăng lên hay giảm xuống giá trị của tiền là một biến số "ẩn" khó xác định. Hầu hết các chủ thể kinh tế có khuynh hướng nhận thức được giá trị danh nghĩa của tiền mà quên đi rằng, giá trị thực tế của nó mới là quan trọng.
Trong thời lạm phát tăng cao, nhanh, người tiêu dùng cá nhân hay chủ thể kinh tế nhận thức được sự tăng lên của giá cả. Nếu người sử dụng lao động giảm tiền công một chút % nào đó trong điều kiện giá cả không thay đổi thì người làm công sẽ nhận thấy ngay. Và hậu quả của việc này sẽ đòi tăng lương. Số tiền công được trả xem như là tiền danh nghĩa.
Tuy nhiên, khi thực tế nền kinh tế có chỉ số lạm phát tăng cao, giá cả liên tục điều chỉnh tăng thì nếu tăng tiền công cho người làm công ở mức x% nào đó thì người làm công không nhận thức được giá trị thực của tiền công. Họ tin rằng, mình có nhiều tiền hơn để tiêu dùng, do vậy, họ chi tiêu mạnh tay hơn. Điều này dẫn đến lạm phát lại tăng lên. Như vậy, điều chỉnh tăng lên tiền công danh nghĩa trong thời kỳ lạm phát sẽ là tác động kích thích thêm lạm phát của nền kinh tế.
Lý luận của Keynes cho rằng, Ảo giác tiền tệ là nguyên nhân làm cho các quyết định của chủ thể kinh tế trở nên không chính xác và hành vi kinh tế của họ bị làm cho méo mó, khi đó, giá cả trở nên không linh hoạt. Cùng với lạm phát, ảo giác tiền tệ làm cho nền kinh tế rơi vào trạng thái mất cân bằng và thiếu hiệu quả.
Nhìn lại số liệu các lần tăng lương cơ bản/lương tối thiểu của Việt Nam có thể nhận thấy lý luận Ảo giác tiền tệ đã phát huy tác dụng của nó. Cả khoảng thời gian dài từ từ 1997 của thế kỷ 20 và đến 2013 của thế kỷ 21, các lần tăng lương đều rơi vào thời điểm lạm phát đã bùng phát, đặc biệt thập kỷ từ 1997 - 2006. Đó là thời kỳ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế kéo theo chi tiêu tăng, giá cả phi mã, tiền lương thực tế không hoặc chưa đáp ứng được tiêu dùng cơ bản của người lao động. Các nhà hoạch định chính sách đã cùng với Quốc hội triển khai chính sách lương cơ bản đối với người lao động. Chính sách tiền lương cơ bản đã đáp ứng tốt mong mỏi của người lao động và là thành công tốt đẹp của chính phủ lẫn Quốc hội. Tuy vậy, đó chỉ là tiền công danh nghĩa, còn tiền công thực tế chưa chắc tăng được là bao khi so sánh với chỉ số CPI.
Nhìn lại số liệu lịch sử để thấy rằng, nếu triền miên tăng tiền công thì khó có thể đáp ứng được yêu cầu của người lao động. Năm 1997 - 1998, khủng hoảng tiền tệ Châu Á đã kéo đến hệ luỵ cho Việt Nam, tốc độ tăng trưởng của năm 1998 chỉ đạt 4,8%. Phải đến 2004, 8 năm sau kể từ bão tiền tệ Châu Á, nền kinh tế Việt Nam mới bước vào vụ mùa, tốc độ tăng trưởng 7,7%, CPI đạt 6,5%. Năm 2004, chính phủ không tăng lương tối thiểu.
Nhìn từ 2007 đến nay, hơn 6 năm vật lộn với chính sách tài khoá - tiền tệ để ổn định nền kinh tế, chính phủ đã có nhiều lần điều chỉnh lương cơ bản, và đã kéo theo lạm phát "kinh hãi". Đến giai đoạn 2012 - 2013, cơ bản lạm phát đã ổn định và nằm trong khoảng cân bằng cho phép, vậy chăng, nên tạo ra một Ảo giác tiền tệ mới cho nền kinh tế.
Nên chú ý rằng, chính sách tiền tệ đã cơ bản làm đúng vai trò của nó là Kiềm chế lạm phát, ổn định đồng nội tệ và kích thích tăng trường. Bây giờ là thời kỳ vàng son của Chính sách tài khoá.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Hết chuyện lãi suất: Ông chủ doanh nghiệp kêu gì?

Mấy năm nay, tình trạng kinh doanh khó khăn khiến các doanh nghiệp gào thét về việc giảm lãi suất tiền vay. Quả thật, nhà điều hành chính sách cũng đã lắng nghe và dần thực hiện các bước đi để giảm lãi suất cho vay về mức phù hợp với thị trường. Đến tháng 5/2013, câu chuyện lãi suất cho vay coi như "xong phim", ngân hàng nhà nước đã thực hiện đúng theo mong mỏi của các ông chủ doanh nghiệp.
Dạo này, đọc báo thấy ít bài báo kêu "..làm ra bao nhiêu ngân hàng thu lãi hết", ".. lãi suất quá cao khiến doanh nghiệp chết ...", ... và cũng chả thấy ông chủ nào kêu nữa. Chỉ thi thoảng, lại nghe mấy ông Bất động sản than tồn hàng, nợ cao, kinh doanh kém,... Đến nay, họ than đầu ra khó khăn, kêu nhà nước hỗ trợ khai thác thị trường mới, ... Kiểu chi cũng kêu được.
Chính sách tiền tệ đã chịu nhiều sức ép đối với tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế cũng như sự tồn vong của hệ thống doanh nghiệp. Tuy nhiên, nên nhớ rằng, chính sách tiền tệ, cơ bản, là công cụ để kiềm chế lạm phát và quản lý đồng nội tệ. Hay nói một cách khác, chính sách tiền tệ tác động trực tiếp đến tiêu dùng của dân cư. Trong thời kỳ giảm phát, chính sách tài khoá có tác động cực lớn lên tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.





Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

Chuyện đời tôi kể

Lại đây nghe kể
Chuyện đời của tôi
Có hạt mưa rơi
Trên triền cát trắng

Những trưa hè nắng
Trốn giấc trưa nồng
Chơi với dòng sông
Với con thuyền giấy

Những ngày xưa ấy
Bố kể cho con
Những vết chân son
Giấu tìm trên cát

Ngày nay tôi kể
Câu chuyện cho con
Con nói vuông tròn
Như là cổ tích

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Rặt rặt trong phố


Đi làm về chơi cùng hai cu con ở sân trường, nhìn cu em lon ton chạy theo mấy con chim rặt rặt chợt thấy lại tuổi thơ của mình. Ngày nhỏ, nhà ở khu lâm trường nên cây cối um tùm, nhiều dãy nhà làm việc và nhà tập thể san sát. Lũ chim rặt rặt(*) thường hay về làm tổ trên mái nhà, những góc trên chóp mái thường được chúng thích làm tổ, các khe hở giữa rui mèn chi chít tổ chim. Một thời, tụi trẻ con trong khu tập thể hay leo trèo tìm bắt chim non về nuôi. Tụi chim non nuôi khoảng được 2 tháng là tập bay, tụi trẻ con gọi là ra ràng. Chim non háu ăn, từ cơm nguội cho đến châu chấu, từ nhộng ong cho đến khoai sắn. Nhiều hôm mưa gió, lũ chim non rơi xuống nằm lăn lóc bên vũng nước đọng, tụi trẻ con lại tìm cách đưa chúng về tổ.
Rặt rặt, lũ chim chỉ thích sống gần vùng đô thị, chúng ít khi làm tổ trên cây. Ngày ngày chúng sà xuống sân kiếm ăn, chúng chẳng sợ cả chó mèo. Nhiều nhà nuôi mèo để đuổi chim vì chim hay ăn kê phơi giữa sân, nhiều đứa trẻ lên ba lên bốn cứ lon ton chạy đuổi theo lũ chim. Cũng lạ, lũ chim dạn dĩ chẳng sợ trẻ con, vút cái là bay cách một đoạn khoảng 5 mét, lại nhảy nhót chờ tụi trẻ đến. Mà vui, lũ trẻ con nuôi chim lớn biết bay rồi lại thả chúng đi, nhiều con cứ quẩn quanh gần nhà để chơi với người. Ấu thơ, tụi mình ngây thơ đến nỗi đếm rặt rặt đậu trên mái nhà con nào là của mình, thế mà lũ trẻ chẳng bao giờ dành nhau vì mấy con chim trời.
Mình ở Hà Nội, gần nhà trẻ trường học của con, may mà nhà trường có nhiều cây xanh, nhiều gốc xà cừ to hơn cả vòng tay người ôm. Lũ rặt rặt thường sà xuống sân kiếm ăn từ đồ ăn của tụi trẻ con rơi vãi trên sân trường. Mỗi sớm mai, chúng chí choé, chích chích vang cả sân trường. Mấy người bảo vệ bảo, chả cần có đồng hồ báo thức cũng biết trời sáng. Lũ chim đến sớm lắm, ríu rít cả ban mai cho đến chiều muộn.
Mấy hôm rồi, chợt thấy có mấy người đặt bẫy chim rặt rặt. Một chú chim mồi đặt trong lồng để dụ lũ rặt rặt đến. Mình thấy, hỏi bẫy chim làm gì, người ta bảo để nhắm rượu. Ôi chao, những người hàng xóm của lũ chim chẳng thể nào hiểu nổi?! Mấy ngày đầu còn bẫy được vài con nhưng cả tuần nay chẳng có con nào bén mảng tới cái lồng có con chim mồi. Mấy lão còn bảo lũ chim ở đây khôn thật?! Con người, khi mà đồng loại gặp nạn ở một nơi nào đó người ta còn thông báo cho nhau để cẩn thận mà tránh đi huống chi lũ chim trời, sống với tự nhiên chúng trở nên nhạy cảm với con người. Hình như chúng chỉ tin lũ trẻ con, còn người lớn, miếng ăn đã cướp mất của người lớn sự tự do và bình yên.
Thành phố, san sát mái tôn, ngõ đi chật hẹp, suốt ngày tiếng động cơ rầm rập lao trên phố. Người ở nhà may ra còn có thể nghe thấy tiếng chim hót chứ đi đường thì chịu. Người ta lao đi, vội vàng, căng thẳng chẳng còn thời gian để lắng tai nghe một tiếng hót của tự nhiên, tiếng ríu rít của tuổi ấu thơ một thời. Đôi lúc, người ta lao đi vội vã chỉ để đến góc hồ Hale nghe tiếng chim hót. Chơi chim, người là làm cho chim cái lồng thật đẹp rồi nhốt chúng vào, tập cho nó hót, nó kêu rồi đem đi thi thố với nhau. Tiếng hót của lũ chim bị cầm tù thì làm sao mà hay được. Chim trời, đồng nghĩa với cánh bay tự do, tiếng hót vút bay giữa không gian rì rào gió và nắng. Ai đã từng mắc võng nằm dưới bóng cây giữa trưa hè để nghe tiếng chim non chờ chim mẹ mớm mồi thì may ra mới hiểu được tiếng của tự nhiên.
Nhà phố, may mắn thay lại ở gần khoảng không gian xanh của trường học, ngày ngày cùng con chơi đạp xe, đá bóng ở sân trường. Mà lạ, vì tiền, mảnh sân trường phía sau cũng đã cho thuê làm sân chơi cầu lông, tenis hết cả, mấy ông bà to béo cứ hùng hục quật trái banh quả cầu cho đến rã mồ hôi, nhiều khi, lại mắng chửi nhau chí choé át cả tiếng chim. Mấy con chin rặt rặt thi thoảng sà xuống nhặt mấy mẫu vụ bánh mì là bị xua đuổi vì người ta sợ rằng, lũ chim mang mầm bệnh virus cúm.
Người lớn, bị hãm trong một không gian chật chội của phố thị lại bỗng thèm một mảnh vườn xanh mướt, thích tán cây vòm lá trong sân và mở ra hội thi chim hót. Vậy nhưng, cứ có khoảng trống nào đó có thể tận dụng được, người ta lại tụ tập vui chơi, ồn ào và bàn những chuyện thị phi của cuộc đời. Thể thao rồi cũng chỉ để rèn luyện thể lực, đảm bảo sức khoẻ nhưng người ta chẳng bao giờ nghĩ rằng phải tạo nên một không gian đảm bảo sức khoẻ cho tinh thần trước.
Tôi may mắn, tự nhận là vậy, được lớn lên giữa miền quê miền trung đầy nắng và cát. Để dựng nên được mảnh vườn xanh hay đám rau để sống, người quê tôi đã oằn mình với hầm hập gió lào, chắt chiu từng giọt nước để tưới cây. Quê tôi, hình như người quê ít chơi chim. Tôi thấy bố có nuôi chim, hỏi sao bố nuôi làm gì cho vất vả, ông bảo, “nuôi vài con để nó hót, một thời gian sau là lũ rặt rặt lại về đầy vườn thôi. Nuôi rồi thả, để chúng được tự do với đồng loại, để vút bay tiếng hót trong sớm ban mai”
Quê miền trung, dựng được mảnh vườn là cả một đời chắt chiu. Tôi ở thành phố, đô hội với ánh đèn màu, với náo nhiệt xe cộ, với cả những thị phi đời người nhưng vẫn mơ về mảnh vườn xưa xanh thắm. Thắm thiết với đất, với cây, ngày ngày tôi kiếm được niềm vui bé nhỏ với luống rau xanh. Vợ tôi bảo, “anh đúng là nông dân thứ thiệt”. Ơ hay, tôi lớn lên từ ruộng vườn quê nhà cơ mà. Tụi nhỏ học được nhiều điều từ cây lá, sâu rầy. Lớn lên, mong chúng hiểu được nỗi vất vả của người nông dân, của người chăm bón trồng cây. Hôm rồi, đang cặm cụi bắt sâu cho mấy cây cà chua, một chú chim sâu lích chích nhảy nhót bên cạnh, cu Rơm nhìn thấy rồi nói, “chim sâu khôn lắm bố ơi, nó chờ bố bắt sâu rồi chén no nê”. Đúng là trẻ con, ấu thơ ngày xưa chắc tôi cũng vậy. Nói như Steve Jobs “Hãy luôn khát khao, Hãy cứ dại khờ”. Luôn khát khao với cuộc đời của mình và dại khờ với tụi trẻ con. Cuộc sống, chỉ có thể vui khi chơi với tuổi ấu thơ.
* Rặt rặt thuộc bộ chim sẻ, nhiều vùng gọi là sẻ ngô; miền trung thường gọi là chim rặt rặt

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

Lãi suất 6%/năm cho tiền đồng: Liệu có rơi vào trạng thái Bẫy thanh khoản

Lý luận của Keynes và trường phái Keynes sau này cho rằng: Chính sách tiền tệ lỏng được thực thi thông qua biện pháp giảm lãi suất tiền gửi. Tuy nhiên, khi lãi suất giảm đến một mức nhất định thì người dân sẽ hành động bằng cách giữ tài sản của mình bằng tiền mặt mà không đem đi đầu tư hoặc mua chứng khoán. Khi đó, chính sách tiền tệ trở nên khó tác động đến nền kinh tế (lý thuyết Sự bất lực của tiền tệ lỏng). Keynes cho rằng, một lượng tiền cung ra trên thị trường sẽ tác động đến tổng cầu của nền kinh tế và được thể hiện bằng lý luận hệ số nhân tiền. Một khi tổng cầu được kích thích bằng lượng tiền cung ra thị trường với giá rẻ thì sẽ thúc đẩy được tăng trưởng.
Bẩy thanh khoản là tình trạng các tổ chức tín dụng không huy động được vốn từ dân cư để thực hiện cho vay trở lại đối với thị trường doanh nghiệp đầu tư và tiêu dùng dân cư. Lúc đó, tình trạng thanh khoản của các ngân hàng có vấn đề. Thanh khoản kém sẽ không đủ nguồn tài chính để chi trả cho các khoản tiền gửi đến hạn khi người gửi tiền cần rút ra (gồm gốc + lãi)
Nền kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây đã áp dụng khá nhiều các lý luận của Keynes khi thực thi chính sách tiền tệ và đã gặt hái được nhiều thành công tích cực. Tuy vậy, lý thuyết của Keynes cũng có mặt trái của nó đó là các hành động của chính phủ, ngân hàng trung ương chỉ tác động đến tổng cầu ngắn hạn bởi Keynes lấy nguyên lý cầu hữu hiệu làm trọng tâm cho các chính sách vĩ mô.







Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Thuyết cân bằng Barro - Ricardo: Sự kỳ vọng hợp lý

"... in the case where the marginal net-wealth effect of government bonds is close to zero ... fiscal effects involving changes in the relative amounts of tax and debt finance for a given amount of public expenditure would have no effect on aggregate demand, interest rates, and capital formation."
 + families act as infinitely lived dynasties because of intergenerational altruism 
 + capital markets are perfect (i.e., all can borrow and lend at a single rate)
+ the path of government expenditures is fixed
 Cân bằng Ricardo (Ricardian equivalence) cũng còn được gọi là Định lý cân bằng Barro-Ricardo (Barro-Ricardo equivalence theorem) là một lý thuyết kinh tế cho rằng người tiêu dùng sẽ hiểu rõ giới hạn ngân sách của chính phủ, và như vậy thời điểm thay đổi thuế suất sẽ không ảnh hưởng tới thay đổi trong tiêu dùng của họ. Theo đó, Cân bằng Ricardo cho rằng việc chính phủ chi trả cho chi tiêu của mình thông qua đi vay hay tăng thuế là không khác biệt, ảnh hưởng của hai biện pháp này lên mức cầu sẽ giống hệt nhau. nếu chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng phát hành trái phiếu, các khoản thừa kế để dành (bequests) mà các gia đình để lại cho con của họ sẽ trở nên đủ lớn để bù lại cho tăng lên của thuế sau này để trả cho các trái phiếu đó.
Vậy nên: Sẽ hiểu rằng hôm nay nhà nước đi vay thì tương lai nhà nước sẽ tăng thuế để có tiền trả nợ, nên sẽ giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm hôm nay để tương lai có tiền nộp thuế. Như thế, tuy nhà nước tăng tiêu dùng của mình, nhưng lại làm giảm tiêu dùng cá nhân, nên hiệu quả của chính sách tài chính sẽ không cao như nhà nước mong đợi. http://hoptrandinh.blogspot.com/2013/04/khi-ngao-op-cung-tien.html
Do đó, các chính phủ tăng cung tiền hiện tại đã chưa thể mang lại thành công trong ngắn hạn. Nếu bạn học kinh tế vĩ mô, bạn sẽ phải hiểu mô hình LM-IS.Hiểu mô hình này để có thể nhận định được trong các giai đoạn khác nhau của nên kinh tế, chính phủ nên Điều chỉnh chính sách hướng đến Điều tiết tổng cầu hay Điều tiết Tổng cung (Trọng cung - Trọng cầu)

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Hồi môn của Bố vợ - Mộc mạc chất nhạc đĩa than

Hồi mới lấy vợ, dọn nhà cho bố vợ mình phát hiện ra một thùng đầy toàn đĩa than (vynil - long play), lúc phát hiện ra mình có ý bỏ đi nhưng hỏi ý kiến bố vợ, cụ bảo "chà, toàn đồ quý hiếm, để lại đó cho ba.Khi mô rảnh rỗi thì kiếm đầu nghe thử". Hồi trẻ, ông học ở Liên xô và Ucraina nên có thú đam mê âm nhạc Nga. Khi về nước, ngoài các vật dụng, sách vở là cả bao tải toàn đĩa than. Ngày trước, ông cụ có cái đầu quay đĩa nhưng đã hỏng lâu rồi nên đống đĩa than bị xếp xó.
Lời nói "toàn đồ quý hiếm" cứ ám ảnh mình. Hồi bé tí, nhà hàng xóm có cái đầu quay hình loa kèm, cứ đêm về là réo rắt kêu. Thi thoảng, ông hàng xóm lại kêu tụi trẻ con trong xóm để mở mấy cái đĩa cải lương, nghe hay đáo để. Vụ hàng hiếm của bố vợ mình cứ ấp ủ "bắn tỉa" đống đĩa kia mãi. Quả thật, âm thanh và âm nhạc mình chả hiểu biết lắm, có chăng cũng chỉ để "nó kêu cho vui tai". Thế nên, ấp ủ "chiếm đoạt" tài sản của bố vợ được hình thành đến hơn 6 năm nay rồi. Kỳ nghỉ vừa rồi chính thức lên phương án "chuyển quyền sở hữu" tài sản tinh thần của bố vợ. Vụ này cũng li kỳ và hấp dẫn nên cần có chương hồi rõ ràng. Kịch bản được dựng lên một cách chi tiết và mang tính thuyết phục với mục tiêu "việc đã rồi".
Phần I: Lùng sục đầu quay
Gần nhà mình, có cửa hàng chuyên bán đồ âm thanh cổ, nhạc xưa cũ. Thi thoảng ghé qua mua mấy cái CD cũng được ngắm hàng thửa của những năm 40 - 70 thế kỷ trước. Cha bán hàng, tính khá nghệ sỹ và chảnh, lão bảo "toàn bộ kho hàng này trị giá nhập vào đến hơn 15 tê". Mình cóc hiểu, cứ nghĩ là 15.000$, hỏi lại, tê là gì? Lão cười khẩy "chú mày là gà con rồi, 15 tờ i ti hỏi tỷ ấy". Chết ngất. Nhìn trong nhà toàn đồ kỳ quái, cũ thếch, mốc meo... Được cái lão này cũng dễ tính, cho phép mình lục tung nhà lão lên để kiếm cái đầu đĩa hợp với giá tiền mình đưa ra, lão bảo "với tầm xèng đó, hình như có, chú đi mà tìm, cẩn thận kẻo đổ vỡ là không có tiền đền đấy nhá". Lại bực với cái lão chảnh.
Sau tầm 3 tiếng, moi được trong góc cái đầu Victor JL-A25 hợp với giá tiền và hợp với cái ampli, CD hiện có ở nhà. Sau một hồi lau chùi, chỉnh sửa, cho cắm điện, đặt đĩa vào và ..... nghe tiếp lép bép lép bép, nổ như rang muối. Chết thật, chẳng lẽ mình toi công?

Một hồi lau chùi, mình đề nghị lão chủ lấy cái đĩa mới tinh để nghe thử... Chu choa, âm thanh trong veo, tiếng violin réo rắt, tiếng đệm piano mềm mại như dòng suối. Thế là ổn, công đoạn đầu tiên của mục tiêu chiếm đoạt đã hoàn thành. Một em Victor JL Made in Japan đời 1971 được hồi sinh, đi tong hơn hai củ. Chi thêm hơn trăm nữa để mua thử nghiệm cái đĩa test Accoutist. Đĩa mới láng coóng, bìa đẹp trắng trơn, ngửi còn cảm nhận được mùi nhựa vynil.
Lúc ôm nó về nhà, vợ nhìn thấy liếc xéo một phát, than rầm trời "Anh lại mang đống sắt vụn về đầy nhà nữa à. Bố con anh sao mà lắm thú chơi kỳ quái thế không biết". Ông cu Rơm lại phán đúng một câu "Bố đúng là cổ lỗ sĩ". Ông cu Nghé lại lon ton "Bố cho con chơi cái này nhé, quay quay hay bố nhờ". Xin ông. Lắm vẹo quá.

Phần II:Kết nối với Ampli và loa
Bộ âm thanh nhà mình có 2 con âm ly chất, hàng Nhật xuất Mỹ năm 83, bộ loa OPTONICA và SANSUI uýnh nhạc country và jazz thì thôi rồi. Đặc biệt, mấy thứ nhạc vàng cho vào nghe não nề, thúi ruột luôn. May mà con âm ly Victor đời cổ còn có cổng phono để cắm, chỉ cần chỉnh lại nguồn phát là ổn. Loa thì kệ nó, kêu được là hay rồi.
Dây tín hiệu của đầu JL còn chất Nhật xin, đầu dây hoa mai vẫn bóng, in chìm dòng chữ Made in Japan, đường mass lòng thòng không biết nối vào đâu đành dí tạm nó vô đường cáp truyền hình. Sau khi cân chỉnh độ cân bằng và chống rung, đầu JL sẵn sàng ăn điện.
Phát đầu tiên, mâm đĩa quay đều. Chậc, nhìn cái mâm đĩa quay quay hấp dẫn thiệt. Đầu kim Pioneer 201AC bóng đẹp, nhấc phát ăn luôn. Âm thanh lần đầu tiên được phát ra ....ROOOOOEEEEEEETTTTTTTT. Chi vậy trời. Bộ cháy phần nào đó chắc? Tim cứ nhảy nhót thót hết cả ruột. Sau một hồi kiểm tra lại cổng vào, è, té ra, cắm nhầm L và R. Hút chết.
Mần mò một lúc rồi cũng ổn, thử đi thử lại mấy lần các đường tín hiệu mới dám đặt kim đọc lên đĩa. Hồi hộp thiệt. Cái cảm giác sắp được nghe thấy âm thanh của đĩa than khá thú vị, nó tỷ như hồi bé lúc chờ đợi bóc hộp quà do bố đi công tác xa về tặng.
Lúc kim đọc được hạ xuống cũng là lúc âm thanh nổi lên, trời đất quỷ thần ơi, tiếng lép tép nổi lên trước rồi mới đến tiếng violin vang lên. Mình lặng người đi bởi đã lâu lắm rồi mới nghe lại được chất âm thanh thực đến vậy. Âm vực rộng, âm thanh phát ra loa căng tròn, cảm nhận như đang ngồi cạnh nghệ sỹ chơi vĩ cầm. Thành công, mình tự nhủ với công cuộc "âm mưu chiếm đoạt tài sản của bố - vợ".

Phần III: Việc đã rồi và công cuộc đàm phán căng thẳng
Ngay sau khi hoàn thành việc kết nối và nghe thử, mình triệu tập ngay vợ một cuộc họp đột xuất, tìm kiếm đồng minh để đàm phán với bố vợ. Ừm, đồng minh này khá tin cậy và tính hợp tác 99,99%. 1% còn lại còn đang lưỡng lự vì ... thêm một trò vui là thêm thiệt hại tài chính và ngân sách của vợ.
Cuộc họp 4 thành viên trong gia đình được hoàn tất một cách nhanh chóng, với nhiệm vụ được phân công cụ thể:
- Bố: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống âm thanh và dọn dẹp đống rác đã thải ra.
- Vợ: Tiếp tục cung cấp nguồn tài chính khi cầm thêm khoản đầu tư đột xuất.
- Cu Rơm: Gọi điện ngay cho ông ngoại để khoe bộ âm thanh mới sắm.
- Cu Nghé: Mời ông bà ngoại đến thưởng thức âm thanh đích thực.
- Nhiệm vụ chung cho 4 thành viên: Các bên tham giá có trách nhiệm thực hiện ngay quyết định trên.
Ngay sau khi các thành viên triển khai nhiệm vụ được giao, 45 phút sau tiếng xe máy của bố vợ đã xịch ngay cửa. Cụ bảo "Xem nào, cái chi mà tụi bây ầm ào hết cả lên. Cu Nghé đâu ra đây ông bế tí nào....". Chưa thấy một ai sắp "mất của" lại sẵn sàng mất tài sản đến thế. Thế "đã rồi" đã được bày ra, kiểu chi cũng "xuôi"







Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Căn bệnh ĐẦU CƠ

Nền kinh tế nước nhà lại rơi vào vòng xoáy mới của nạn đầu cơ. Mấy năm nay, thị trường chứng khoán (TTCK), bất động sản (BĐS) đã làm kiệt quệ nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế bởi vấn nạn đầu cơ trên thị trường. TTCK vẫn đì đẹt, xanh vỏ đỏ lòng; BĐS vẫn bất động trước thông tin các gọi cởi trói, kích cầu, ...Ngày 12/4/2013, thị trường trong nước cũng như toàn cầu được phen chao đảo bởi VÀNG.
Giá vàng trên thị trường quốc tế đã giảm mạnh, lao dốc lớn nhất trong hơn một thập kỷ qua. Một thập kỷ dài giằng dặc và điên cuồng bởi giá vàng. Cơn cuồng quay của giá vàng chỉ chịu dừng lại khi chạm mốc 1.35,6USD/oz, bốc hơi gần 10% so với phiên hôm trước. Các nhà đầu tư lẫn đầu cơ ngỡ ngàng, không thể tìm ra nguyên nhân của việc mất phanh này. Trong ngày hôm đó, không có một tin tin về kinh tế vĩ mô, tình hình chính trị toàn cầu mất ổn định hay động thái mới của chính sách tiền tệ của Mỹ, EU, Nhật Bản,...
Vậy điều gì gây nên cơn khủng hoảng giá vàng?
Các nhà đầu tư, coi vàng là thứ hàng hoá có khả năng thanh khoản cao, khi các luồng vốn đầu tư chưa có hoặc có nhưng khả năng sinh lời thấp thì họ đầu cơ vào vàng. Khi chuyển trạng thái của tiền qua vàng, lượng vốn bơm vào này không có dòng tiền nên coi nó là dạng đầu cơ. Đầu cơ, mục đích cuối cùng là kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá mua - giá bán. Khi vàng xuống giá, rồi có lúc nó lại vọt trở lên. Nhà đầu cơ vàng không chỉ ném tiền vào giá vàng mà họ tính đầu cơ dựa vào sự biến động của lạm phát. Khi lạm phát gia tăng, vàng là nơi trú ẩn của các dòng tài chính đầu cơ. Tuy nhiên, khi mà một lượng tiền lớn được EU, Mỹ, Nhật bơm ra thị thường bởi các công cụ QE, mua trái phiếu, tăng chi tiêu công... thì lạm phát của các khu vực này vẫn không thể nhích lên được. http://hoptrandinh.blogspot.com/2013/04/khi-ngao-op-cung-tien.html
Điều gì đang chế ngự nền kinh tế toàn cầu.


(còn tiếp)...

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

Khi ngáo ộp cung tiền

Người ta đang tự hỏi, nước Mỹ đã bơm bao nhiêu USD vào nền kinh tế nội địa và toàn cầu trong 5 năm qua? FED vẫn cầm trịch nguồn cung tiền cho nước Mỹ.
Châu Âu, trong cơn bĩ cực của nợ công và triển vọng kinh tế ảm đạm, vẫn bơm tiền để cứu các chính phủ vỡ nợ và các ngân hàng mất thanh khoản. ECB và IMF vẫn chi bộn tiền cho các chính phủ mạnh tay chi tiêu.
Nhật Bản, sau một thời kỳ dài gần 2 thập kỷ, không thể tăng trưởng danh nghĩa của nền kinh tế. Thủ tướng mới, Thống đốc mới đã đồng thanh tương ứng với khẩu hiệu "Bơm tiền" khủng cho nền kinh tế. BoJ mạnh dạn cung tiền, làm giảm sức mạnh của đồng yên trên toàn cầu nhằm kích thích lạm phát lên 2%.
Mỹ, Châu Âu, Nhật vẫn loay hoay với chính sách tiền tệ, tài khoá lỏng bằng các công cụ nới lỏng định lượng, mua trái phiếu, hỗ trợ thanh khoản, kéo lãi suất về gần 0%. Thế nhưng, nền kinh tế của các ngáo ộp vẫn chưa có dấu hiệu tăng trưởng ổn định. Sự bất ổn của nền kinh tế các nước phát triển thể hiện sự bất ổn bởi tác động của các sự kiện toàn cầu.
Vận rủi của các chính sách tiền tệ luôn ám ảnh bởi chiến tranh, thiên tai, chính trị. Nước Mỹ sau trần nợ công lại đụng đến vách đá tài khoá. Khi tài khoá ổn định lại phải đối diện với "những cuộc chiến tranh". Chính quyền của tổng thống Obama vẫn điên đầu với những cú sốc chính trị trên toàn cầu. Nước Nhật, sau trận đại hồng thuỷ vẫn lo lắng với mấy lão hàng xóm xấu bụng luôn nhăm nhe gây sự và tranh chấp.







Tạ từ

Tạ từ ngày tháng rong chơi
Ừ thôi một tiếng thở dài chợt vơi
Xa chuỗi ngày chốn biển khơi
Tạ từ ta lại về nơi quê nhà

Quê nhà vương giọt nắng rơi
Cơn mưa nặng hạt thảng rơi ngoài đồng
Ta chợt hiểu những mênh mông
Ra đi - trở lại bến sông cuộc đời

Bến đời neo lại chút thôi
Dẫu mai đây: nắng - gió - mưa đời mình
Về thắm lại những ân tình
Tạ từ một tiếng, níu mình với quê

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013

Nắng mưa - Cuộc đời

Tôi vẫn nghe mẹ kể
Cổ tích những ngày xưa
Hạt nắng và cơn mưa
Cái nào rồi sẽ thắng?

Hạt nắng qua triền cát
Gió hát rặng phi lao
Bên sóng biển ồn ào
Nắng lang thang tìm trốn

Cơn mưa trưa mùa hạ
Đổ cả vạt mưa giông
Mẹ vất vả tảo tần
Chạy cơn mưa ướt áo

Sau mưa rào là nắng
Cầu vồng ở trên cao
Gió thêm tiếng thầm thì
Mưa - nắng cùng vui vẻ

Mẹ kể đời mưa nắng
Ai cũng phải dãi dầu
Có thức trọn canh thâu
Mới thấu đêm dài - ngắn

Cả một đời tóc trắng
Vai gánh trọn yêu thương
Mẹ về cõi vô thường
Còn con đời mưa - nắng




Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Xốn xang tháng chạp

Cái tháng cuối cùng của năm lại đến, đến muộn màng trong cái rét mùa đông. Tôi ở miền xa giữa đất hà thành nên miên man nhớ những ngày tháng chạp xưa cũ. Cuộc đời với bao đổi thay và kỳ vọng nhưng những đứa con xa quê cứ đến tháng chạp lại nhớ về quê. Quê hương, là nguồn cội, là đất cằn khô hốc hác môi người giữa cái lạnh mùa đông còn sót lại trên triền cát miền Trung.
Miền trung xa ngái một đời, tôi đã đi xa bao lần nhưng vẫn nhớ về triền cát miên man gió. Đi xa, cuối năm hay nhớ về những gì xưa cũ, những hoài niệm tuổi thơ. Ngày còn mẹ, mẹ hay đếm tờ lịch mỗi sáng, cứ sau rằm tháng chạp mẹ lại bộn rộn với bao việc. Mẹ miệt mài để chuẩn bị cho một cái tết sung túc và an lành. Những ngày nắng lọt qua miền mây sưởi ấm mảnh đất cằn mẹ lại chộn rộn với lá dong, vườn chuối. Mỗi khi thấy mẹ chợ về với bó lá dong là tôi biết tết đang gần kề. Tháng chạp về, tụi trẻ con xốn xang chờ đón áo mới và đi chợ tết ngày cuối năm, đêm vẫn mơ thấy tiếng pháo đì đùng và tiếng mấy con cún ăng ẳng rúc đầu vào gậm dường khi tiếng pháo rền vang.
Miền quê với bao kỷ niệm, hoài tưởng những niềm vui thủa ấu thơ để tạm quên đi lo toan hiện có. Miền quê, có cha già vẫn gọi điện bảo "Năm ni rét muộn nên cây hoa đào chưa đơm nụ, gốc mai vẫn xanh lá". Tết đến, năm nào bố cũng nói với mẹ "đừng hỏi con khi mô về, kiểu chi con cũng về bởi không ai có thể quên được hồn quê mái ấm". Tháng chạp về, với bao xốn xang. Mỗi lần ngửi thấy mùi hương trầm đốt lên là chợt nhớ đến Tết. Tết về, là với bao lo toan của mẹ, với nỗi nhọc nhằn của cha. Tết có tiếng củi khô cháy tí tách dưới nồi bánh chưng, có tiếng lầm rầm cầu khấn của mẹ mong cho an lành vinh phúc đến với cả gia đình, dòng tộc.
Một năm gần đi qua, với bao thăng trầm dâu bể, bao bộn bề lo toan và những niềm vui bé nhỏ, tết về, mang theo cả niềm hoài niệm. Tết quê nhà không sung túc nhưng đầm ấm, không áo quần là lượt nhưng đầy sắc màu tươi mới. Tết ở quê, đứng trước cửa nhìn ra cánh đồng tràn đầy màu trắng của đàn cò kiếm ăn trên đám ruộng mới cấy. Đêm về, nghe tiếng cánh cò xào xạc qua ngọn tre đầu ngõ.
Có những năm xa quê, đón tết giữa thành phố ồn ào và chen lấn, thèm có được hương vị tết ngày xưa. Tết về, nôn nao thèm được ngửi mùi hương trầm từ bát hương gia tiên toả ra, thèm được ngửi mùi bánh chưng toả hương thơm nức dưới bàn tay của mẹ. Xa quê, dịp cuối năm lại cứ đau đáu được về quê đón tết, tết của sum vầy và ân nghĩa. Tết về, về để có lại nguồn cội, về với những gì thiêng liêng mà tiết giao mùa của trời đất ban tặng. Tết về, là về với niềm yêu thương của mẹ, với bài thơ bố vẫn khai xuân trong dịp năm mới.
Quê nhà, tháng chạp vẫn mêng mang gió lạnh, vại dưa hành củ kiệu vẫn chưa được đem phơi bởi mẹ đã về với trời đất, xa rời cả miền ly biệt. Với tôi, tết gắn liền với hình bóng của mẹ cha, của triển cát, của đồng ruộng trắng xoá cánh cò.



Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Nhớ thương triền cát

Thấm thoắt cũng đã gần đến tháng Chạp, tháng của những giỗ chạp và lễ tiết. Giữa mùa đông âm u lạnh giá và tê buốt của Hà Nội tôi vẫn miên man nhớ về vị cát nóng và hương mặn mòi của xứ biển quê nhà. Tôi vẫn mơ thấy hằng đêm triền cát chang chang nắng, vẫn cảm nhận được bước chân trần trên cát nóng, bỏng rát nhưng mềm mại.
Quê nhà, chẳng có sợi dây nào ràng buộc đời người nhưng tâm hồn vẫn vấn vương. Càng bon chen giữa chốn thị thành thì càng thương nhớ quê nhà. Càng gần đến cuối năm lại càng ngẫm nghĩ về miền quê xa vời vợi. Quê nhà, có hương mùi rơm rạ trong mùa gặt, có mùi thơm lúa non đang trong thì trổ đòng. Quê nhà, có vị mằm mặm của cá mòi vừa nướng, có vị chua của bát canh chua mẹ nấu. Quê nhà, có tiếng gà gáy sáng, có tiếng nghé ọ gọi mẹ lúc ban chiều.
Quê hương, sợi dây thương nhớ mong manh gắn vào tâm hồn và giác quan của đời người, được ghi lại qua cả một thời ấu thơ, một thời trai trẻ. Quê hương, có tiếng mấy con cún ăng ẳng kêu lên sung sướng khi gặp lại người chủ xa nhà. Tôi đi nhiều, xa nhà nhiều nhưng có những con cún con từ bé chỉ gặp tôi một lần khi mới đẻ ra nhưng sau một năm, nó vẫn nhớ, nó mừng lắm. Cảm giác vui khi mấy con cún lao vào quấn quýt bên chân, có con còn gặm vào chân day day đầy sung sướng.
Quê hương, mỗi khi đi xa về trong chiều hoàng hôn đã nhìn thấy khói bếp từ sau mái nhà là biết ngay mẹ còn cặm cụi trong bếp. Về nhà, đó là cả không gian và cảm giác yêu thương đùm bọc. Tôi nhớ những buổi chiều đông giá buốt, bố ngồi đợi con về để vội vã rót chén rượu ấm đã chuẩn bị sẵn với câu nói thường có "làm chén cho ấm bụng đã nào". Cả nhà, chỉ có tôi mới được bố ưu ái mời rượu như vậy.
Quê hương, như một tâm hồn nhỏ bé ẩn sâu trong tâm hồn của đời người, càng già đi lại càng lớn lên và níu kéo đời người về với những ngày bé thơ. Ai ra đi mà không quay về chắc chắn sẽ vấn vương cho đến khi nhắm mắt xuôi tay để rồi nói với người ở lại "cho ta về quê". Ra đi, để trở về. Mỗi lần trở về lại một lần nối thêm sợi dây yêu thương với quê nhà.
Một ai đó đã viết mà tôi đã từng đọc:
"Quê hương nghĩa nặng tình đầy
Vuông tròn khéo đáp ơn dày mẹ cha
Một đời phiêu bạt phương xa
Một đời rơm rạ cũng qua một đời"
Phiêu bạt chốn thị thành để gây dựng tương lai và làm tròn bổn phận đời người. Bổn phận với những người thân yêu bên cạnh, với những đứa trẻ bi bô với cuộc sống đầy thú vị - đó là bổn phận với tương lai.



Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Quẩn quanh cuộc đời

Tự hỏi: Cuộc đời chi lạ, để đời người quẩn quanh với bao lo toan và kỳ vọng hạnh phúc? Có chăng, hạnh phúc chỉ là một khoảng rất nhỏ giữa bao lo toan và một vài niềm vui của cuộc sống.
Cuộc đời người là cả một trời hy vọng. Hy vọng hạnh phúc. Hạnh phúc là gì mà đời người đi tìm nó để khi đi hết con đường cuộc sống, nhiều người mỉm cười nói rằng mình đã tròn bổn phận. Phải chăng, hạnh phúc là cả một hành trình dài đi tìm ra bổn phận của cuộc đời mình. Mà rằng, bổn phận cuộc sống chỉ là những điều lo toan, là những khoảng lo sợ. Hay bổn phận là trách nhiệm phải mang lại niềm vui cho người khác.
Cuộc đời, chiết tự chính từ này có nghĩa là cuộc chơi có nhiều thành phần tham gia và nhiều sự kiện diễn ra theo một quy luật nhất định. Đời là một quảng thời gian sống của một người. Sống trọn một kiếp đời là việc đời người tham gia vào cuộc chơi theo một quy luật nhất định.



Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

Vách đá tài khoá (Fiscal Cliff): Ngân sách và Tăng trưởng kinh tế

Những vấn đề tranh cãi giữa các ông nghị Quốc hội và Tổng thống B. Obama vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt khi năm tài khoá 2012 đang dần vào hồi kết.
Câu chuyện thâm thủng ngân sách, trần nợ công của chính phủ Hoa Kỳ là một câu chuyện dài tập, ly kỳ và bí ẩn. Đạo luật kiểm soát ngân sách đã được lập nên trong năm 2011 khi nợ công của chính phủ Hoa Kỳ lên mức cảnh báo. Đúng đêm giao thừa 2013, đạo luật này chính thức có hiệu lực. Khi đó, những ưu đãi về giảm thuế lương và thuế lao động đối với người có thu nhập chính thức chấm dứt. Bên cạnh đó, các khoản giảm thuế được áp dụng trong giai đoạn 2001 - 2003 mà Tổng thống Bush dựng nên cũng chấm dứt, doanh nghiệp không còn được hưởng ưu đãi về thuế.
Song hành cùng chính sách thuế, chương trình cắt giảm chi tiêu của tổng thống đương nhiệm sẽ có hiệu lực, các loại thuế liên quan đến chăm sóc y tế sẽ được áp dụng.
Như vậy, với chính sách giảm thuế chấm dứt, ngân sách chính phủ có thể bớt căng thẳng, nợ nần của chính phủ có thể được giảm xuống nhưng hậu quả nặng nề của nó chính là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế khó có khả năng vực dậy, điều này đồng nghĩa với việc nền kinh tế Hoa Kỳ lại rơi vào vòng xoáy của suy thoái - trạng thái đau đầu của các chính khách.
Ai đã dựng nên Vách đá tài khoá?
Giai đoạn tổng thống Bush đương nhiệm, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá đẹp, chi tiêu chính phủ tăng vọt để đáp ứng cho phát triển kinh tế. Đến nhiệm kỳ của tổng thống Obama, ngân sách thâm thủng, nợ công lên cao, khi đó, các ông nghị - đại diện cho các đảng phái - bắt đầu lo lắng và lập nên đạo luật kiểm soát ngân sách.
Các cơ quan lập pháp của Hoa Kỳ và tổng thống Obama đã vô tình dựng lên Vách đá tài khoá. Năm 2013. chính là thời gian các thoả thuận giữa tổng thống và nghị viện chính thức có hiệu lực. Nền kinh tế Hoa Kỳ đối mặt với suy thoái.
Những bước đầu công phá Vách đá tài khoá
Chính quyền tổng thống đã nhận thức rõ câu chuyện bi hài của Vách đá tài khoá nên đã thực hiện giải pháp nới lỏng định lượng (QE) nhiều lần trong năm 2012. Cho đến gần hết năm 2012, FED đã 4 lần thực hiện chính sách nới lỏng định lượng.
Đây là chính sách phi truyền thống trong chính sách tiền tệ của nhiều quốc gia, một khi, nền kinh tế rơi vào trạng thái suy thoái, ngân hàng trung ương hết dư địa để hạ lãi suất cho vay thì QE được áp dụng. Lượng USD được bơm vào nền kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng bằng cách mua lại các tài sản của ngân hàng thương mại hoặc của tổ chức tư nhân (thường là trái phiếu). QE lần 4 này (12/12/2012), FED mua lại đến 45 tỷ USD trái phiếu kho bạc dài hạn nhưng không mua vào trái phiếu ngắn hạn. Điều này, đồng nghĩa với 45 tỷ USD/tháng được bơm vào nền kinh tế thông qua các ngân hàng thương mại. Sau đó, các ngân hàng thương mại đem cho vay đối với người dân và tổ chức kinh tế nhằm kích thích phát triển. Tuy nhiên, bơm tiền ra đồng nghĩa với việc mở cửa cho lạm phát đi vào.
Cuối cùng, Hoa Kỳ có một công cụ siêu đẳng và không một quốc gia nào có thể làm được: In thêm USD khi nền kinh tế khủng hoảng.

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2012

Vốn ODA: Bài toán cho Việt Nam

Với mức thu nhập được tính là "nước có thu nhập trung bình", lượng vốn ODA vào Việt Nam ngày càng tụt giảm. Từ 2009 đến nay, lượng vốn ODA chảy vào VN theo cam kết qua Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ - CG - luôn có số giảm xuống, năm tới - 2013, lượng vốn ODA chỉ còn 6,48 tỷ.
Vốn ODA, thông thường, chảy vào các nền kinh tế đang phát triển trong giai đoạn đầu, thường khoảng 2 thập kỷ. Nguồn vốn này, luôn được sử dụng cho đầu tư hạ tầng, công cộng, phát triển cộng đồng và an sinh xã hội. Những khoản đầu tư này để phục vụ cho đầu tư phát triển trong tương lai.
Khi VN đã có một nền tảng cơ bản về hạ tầng, cơ sơ vật chất phục vụ cho giai đoạn phát triển mới, liệu ODA có còn phù hợp.
Hiện nay, có thể lấy ODA để phục vụ cho công cuộc xoá đói giảm nghèo và đầu tư phát triển.
http://vneconomy.vn/20121210040022841P0C9920/cam-ket-gan-65-ty-usd-von-oda-cho-viet-nam-nam-2013.htm