Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

Khi giá của tiền tăng - giảm

Mức lãi suất tiền gửi được áp 9%/năm là giá cả của tiền. Với người bán - người gửi tiền, mức giá này có quá thấp? Hay với người mua - ngân hàng (nhận tiền gửi), mức giá này có quá cao?

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Gánh nặng tăng trưởng kinh tế

Câu chuyện tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô đang được nhiều người, các phương tiện truyền thông nhìn về phía ngân hàng trung ương. Hình như, người ta đang mong mỏi ở cơ quan này một chính sách ... bùng nổ.
Trong giai đoạn chống lạm phát, chính sách tiền tệ và tài khóa là 2 con át chủ bài mà mọi quốc gia luôn sử dụng. Kết quả của nó thường mang theo hiệu quả và hậu quả. Hiệu quả là kiềm chế được lạm phát, hậu quả là tăng trưởng giảm.
Tuy vậy, để ổn định vĩ mô không chỉ có 2 chính sách trên. Ví dụ, để giảm giá lương thực, thực phẩm, chính phủ có thể kích cầu bằng các gói hỗ trợ người nông dân, các chủ điền để kích thích tăng sản lượng, tăng diện tích gieo trồng, chăn nuôi. Lượng cung được đẩy ra mạnh nên cầu được đáp ứng, giá giảm. Trong rổ tính giá CPI thì lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng kha khá.
Chính sách tiền tệ trong thời gian qua đã ban hành nhiều chính sách mang tính "cưỡng bức". Âu cũng là cách làm buộc phải làm, nếu không có cưỡng bức như vậy thì  thị trường tất loạn. Giá của tiền sẻ được thị trường quyết định nhưng tiền không phải là mớ rau ngoài chợ nên cần có những định hướng cho thị trường. Để quản lý được cần thực thi chính sách Bình để Trị, Trị để tề Thiên. Chốt là là cần sử dụng chính sách Bình Trị Thiên.
Bình: Bình ổn lại những biến động đang diễn ra
Trị: Trừng trị những đầu sỏ đang gây loạn thị trường.
Thiên: Định ra thiên hướng mang tính lâu dài, ổn định.

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Tỷ giá USD/VND: Biến động trước hoài nghi về chính sách

Đô đang được bán ra với tỷ giá kịch trần biên độ cho phép. Đây có lẻ là động thái chốt lời trước cơn biến động sắp tới của tỷ giá.
FED đang dự tính gói kích thích Q.. hoặc OT mới để kích tăng trưởng kinh tế và việc làm của Mỹ. Thế giới này thực sự chao đảo với đồng USD.

Tháng 6: Nắng rát bàn chân khô

Gia tài của mẹ là con
Gia tài để lại cùng con với đời
Một thời mẹ đã tóc xanh
Một đời mẹ vẫn loanh quanh bếp nhà

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Lấy lại niềm tin: Cần ngay và luôn

Trong tình hình tăng trưởng tín dụng vẫn âm so với cùng kỳ năm 2011, chính sách tiền tệ đang bước đầu lấy lại niềm tin của thị trường. Trần lãi suất huy động đã 3 lần giảm với % giảm lên đến 3%, chỉ còn 11%/năm. Dự kiến, trong năm nay, lãi suất huy động tiếp tục giảm còn 10%, hoặc tỉ như CPI giảm sâu, lạm phát ổn định thì lãi huy động có thể còn 9%. Mức này là hợp lý cho nền kinh tế.
Đồng hành với lãi suất huy động, lãi cho vay đối với một số lĩnh vực ưu tiên đã được áp trần 14%. Vậy nhưng, mức lãi suất này vẫn chưa đạt tới kỳ vọng của doanh nghiệp. Với chính sách tiền tệ liên tục được điều chỉnh giảm lãi suất đã tạo nên tâm lý chờ đợi của các ông chủ doanh nghiệp.
Họ chờ điều chi? Mòn mỏi chờ đợi khoản vay với mức lãi suất thấp để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh. Đây là trạng thái tâm lý do đã phải đối mặt với khó khăn tài chính quá lâu, sức chịu đựng đã cạn kiệt. Tâm lý chờ đợi và co cụm để phòng thủ đang phủ đầy trên khuôn mặt của các ông chủ.
Để xóa dần tâm lý này, cần có một chính sách tiền tệ mang tính dài hạn: Điều chỉnh giảm với mức giảm lớn của lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay.


Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Trái phiếu chính phủ: Ai mua và để làm chi?

Có thể nói, sau 5 tháng đầu năm 2012 tín dụng có mức tăng trưởng âm. Đây quả là một kết quả mang tính hậu quả của chính sách tiền tệ thắt chặt. Một khi các ngân hàng thương mại dính đòn tâm lý sợ nợ xấu khi cho vay ra thì dòng tiền của nền kinh tế lại chạy loanh quanh giữa các ngân hàng với nhau. Tiền không đi vào sản xuất nên kết quả, tiền tạo ra tiền bởi các công cụ phái sinh của tiền.
Ngoại tệ bị xiết chặt, vàng bị ... cấm huy động, chứng khoán lình xình như người bị trúng gió, huy động tiền trên thị trường 1 bấp bênh, cho vay ra thì sợ...nợ xấu. Cánh cửa còn lại được coi là hầm trú ẩn an toàn của các ngân hàng thương mại là trái phiếu chính phủ.
Một khi trái phiếu được mua và được coi như một tài sản bảo đảm cho các giao dịch vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng thương mại cũng như giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương, hiển nhiên, trái phiếu trở thành tiền tệ. Đây được coi là giải pháp tiền tệ hóa chức năng của trái phiếu chính phủ.
Hầu hết, các tổ chức tín dụng coi trái phiếu như là một tài sản bảo đảm cho thanh khoản. Khi cần, có thể mang lượng trái phiếu nắm giữ để chiết khấu/bán lại với ngân hàng trung ương. Hẳn nhiên, tiền được cung ra cho ngân hàng thương mại qua hoạt động này, do vậy, lượng cung tiền M2 được tăng lên.

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

Chính sách tài khóa: Định hướng nào cho nền kinh tế

Trước áp lực tổng cầu nền kinh tế giảm bởi chính sách tiền tệ được vận hành bằng biện pháp "hành chính và thủ công"để cắt cơn lạm phát, chính sách tài khóa dường như lạc nhịp.
Chỉ mới tháng 4 và tháng 5, khi hàng loạt doanh nghiệp kêu gào thấu trời vì mần ăn bi đát thì chính sách tài khóa đã bước đầu nới lỏng và dường như nó chưa thể hiện được dấu hiệu của một công cụ đắc lực cho việc kiềm chế lạm phát.
Chính sách tài khóa thể hiện ở mức chi tiêu của chính phủ đối với ngân sách thu được.

Lãi suất: Chỉnh theo lạm phát cơ bản hay CPI

Cuối cùng thì kỳ vọng bao năm nay của nhà điều hành chính sách đã đạt được ước muốn. Lạm phát đã giảm xuống một con số, đạt 8%. Đây là một con số đáng mừng và là thành quả của chính sách vĩ mô trong kiềm chế con bệnh nền kinh tế. Tuy nhiên, kéo theo thành quả này là hậu quả của suy giảm tăng trưởng kinh tế, gần 5 tháng đầu năm 2012, nền kinh tế tăng trưởng chỉ đạt 4%.
Thông thường, có 2 cách đo chỉ số lạm phát của nền kinh tế, gồm CPI chung và core CPI (chỉ số CPI cơ bản/lõi). Core CPI khác CPI chung ở điểm nó đã loại trừ giá của các hàng hóa có tính biến động giá mạnh như năng lượng và thực phẩm.
Thực tế, core CPI dường như có chỉ số thấp hơn CPI chung. Chỉ số CPI được thống kê hàng tháng và nó biến động theo "cơn sóng" của các mặt hàng trong rổ hàng hóa tính giá. Cụ thể, giá dầu thế giới luôn tác động đến giá xăng dầu tại Việt Nam, CPI cứ nhảy nhót lung tung beng lên cả.
Lãi suất ngân hàng nên được áp dụng theo chỉ số CPI cơ bản hay CPI chung?
Để ổn định nền kinh tế trong dài hạn thì nên áp dụng lãi suất kỳ vọng theo CPI cơ bản.
Để "bình định" biến động đột ngột của nền kinh tế thì lãi suất cần áp theo CPI chung.
Tuy nhiên, lãi suất đưa ra chính là kỳ vọng của các nhà làm chính sách trong việc ước lượng mức độ lạm phát và tăng trưởng. Lạm phát và tăng trưởng là bộ đôi song hành, anh em họ hàng với bác lãi suất.


Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Sự ổn định của nền kinh tế

Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thắt chặt đã và đang phát huy hiệu quả và cả hậu quả của nó:
Hiệu quả khi kiềm chế được lạm phát và đánh tụt chỉ số làm phát xuống mức kỳ vọng.
Hậu quả là nền kinh tế rơi vào đình đốn thể hiện bởi tổng cầu giảm. Giới doanh nghiệp, buôn bán kêu rầm trời.
Câu hỏi đặt ra: Tổng cầu giảm đến mức nào là vừa cho nền kinh tế? Hay điểm cân bằng nào cho việc kiềm chế lạm phát và tăng trưởng?
Hầu hết các nước đang phát triển, lạm phát bao giờ cũng song hành với tăng trưởng. Tại Việt Nam, căn nguyên của lạm phát vẫn là lượng cung tiền cho nền kinh tế đã quá nhiều trong nhiều năm, do vậy, đẩy tổng cầu kỳ vọng lên cao.
Vậy, lượng cung tiền là bao nhiêu là hợp lý?

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

Chuyện đường

Chuyến đi xuyên đêm để về quê đi qua vùng núi phía Tây Quảng Bình lần này quả ... bất ngờ. Đường về, hun hun đêm đen, 3h sáng bắt đầu vào địa phận Quảng Bình, rừng núi thâm u, đèn pha ô tô quét một vệt dài sáng trên nền trời khi xe vút lên đèo. Lên đỉnh đèo U Bò, một mình dừng lại giữa chốn rừng thâm cùng cốc, mon men nhìn về phía đông để tìm ánh sáng vệt lên nền trời của Đồng Hới. Mây mù kín mít, găng kín và vào cả trong xe, ẩm ướt đến lạ.
Xuống đèo, gần Khe Gát thì gặp bạn. Ông bạn làm ở Sở GTVT tỉnh đi cùng anh em công nhân lên để khắc phục sạt lở. Đêm, bập bùng lửa trại, anh em hàn huyên chuyện trên trời dưới bể. Gần sàng, bạn kéo tôi theo con đường mòn ven núi vào bản của nhà dân. Dân bản vẫn chìm trong giấc ngủ. Bạn vào, mấy con cún ăng ẳng kêu, chúng đón bạn như đón một người thân của chúng. Mấy cụ già món mén nhai trầu ban sáng. Bạn chỉ cho tôi mấy đứa trẻ nằm lăn lóc trên sàn nhà, manh áo mỏng tang, không quần. Giữa thâm u rừng núi, đêm xuống khá lạnh nhưng tụi trẻ vẫn ngủ ngon lành trong giá lại, có đứa còn nắm trên tay củ sắn luộc trong khi đó, tôi và bạn còn phải khoác áo ấm.
Trên đường về, cứ miên man hình ảnh đứa trẻ nằm lăn lóc bên góc nhà tay nắm chặt củ sắn. Ước chi, khi rời Hà Nội đã mua thêm ít bánh kẹo cho tụi nhỏ. Sáng ni, bạn gọi điện báo "có thêm một đứa bị bệnh nặng lắm, đưa về Cu Ba (bệnh viện) rồi, chừ không biết ra răng".
Đỉnh U Bò vẫn mang trong nó cả hồn thiêng của núi, ẩn trong lòng núi là linh hồn của những người lính, những thanh niên xung phong; mỗi khúc cua tay áo là cả bao nhọc nhằn của những người lính mở đường. Núi vẫn ôm ấp bao mảnh đời cơ cực, lam lũ và côi cút.
Tôi đi để trở về, nhưng đứa con xa ngái trở về quê hương, vi vút với tốc độ xe hơi nhưng mỗi lần chạm vào mảnh đất quê vẫn miên man nỗi lòng.
Đã bao lần đi xuyên những cánh rừng nhánh đông và tây trường sơn, đi qua đêm trên những dãy núi tây nguyên nhưng mỗi lần về U Bò, vẫn chộn rộn. Mỗi lần qua, đứng trên đỉnh U Bò nhìn về xa xa, vẫn một màu xanh của núi rừng, tiếng thâm u của núi vẫn vọng lại.
Tôi hít một hơi thật sâu, hét lên "Tôi ơi"̉ và núi trả lời "Ơi iiiiiii ơiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii". 






Gấu Nga đầu tư: Quả ngọt của 1 tỷ bảng

9 năm ròng rã, số tiền mà Roman Abramovich đã đầu tư vào Chelsea lên đến 1 tỷ bảng. Ông chủ người Nga đã ném khoản tiền khổng lồ vào đội bóng phía tây thành London. 9 năm, với tham vọng một lần lên đỉnh vinh quang của bóng đã các CLB Châu Âu, Roman đã đến ngày hưởng thành quả. Khoản tiền mang tính đầu tư kiên trì của Roman đúng kiểu kinh doanh của gấu Nga, đã đến - ở rất lâu - khó ra đi.
Giới đầu tư thế giới ít hiểu về văn hóa kinh doanh của người Nga, tôi chẳng có tí chút gì về văn hóa kinh doanh của họ ngoại trừ những "tin vịt" mà những người Việt làm ăn ở Nga đi về kể lại - toàn chuyện lừa đảo và chụp giật. Một số câu chuyện thì đàng hoàng nhưng nó bi thảm lắm.
Cha tôi, lần đầu tiên ông kể về nước Nga - nơi ông đã đi qua - đó là cánh rừng nhuộm sắc vàng của lá, là những ngày đông tuyết trắng muốt lên đến đỉnh đồi, là những miếng bánh mì nguội ngắt của một gia đình người Nga mang tặng. Với ông, nước Nga đầy yêu mến và bình yên.

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

Thị trường tiền tệ: Nốt trầm tín dụng

Lịch sử thị trường tiền tệ của Việt Nam đang chứng kiến một nốt trầm của bản giao hưởng tín dụng. Tăng trưởng tín dụng trong gần 5 tháng đầu năm 2012 đang ở mức âm. Cú sốc này của nền kinh tế tương tự như một vận động viên điền kinh đang chạy nước rút để về đích bỗng đứng khựng lại. Hậu quả là cơn suy tim xuất hiện, máu dồn ứ lên não và dẫn đến sock.
Nền kinh tế đang bị sock do giáng đòn mạnh trong chính sách tiền tệ. Kịch bản của chính sách tiền tệ khá đúng khi kê đơn để điều trị căn bệnh lạm phát của nền kinh tế nhưng đơn thuốc này đang gây ra một số phản ứng phụ.
Kịch bản điều hành kinh tế thông qua chính sách tiền tệ năm 2012 đã được định hình là: Tổng phương tiện thanh toán tăng 14% - 16%, tăng trưởng tín dụng từ 15% - 17%, lạm phát dưới 10%, tăng trưởng kinh tế đạt 6%.
Như vậy, kịch bản đưa ra và các biện pháp thực thi chính sách tín dụng chưa ăn khớp với nhau. Liệu rằng, trong khoảng thời gian còn lại của năm 2012, tăng trưởng tín dụng có được kích lên?
Để đạt được chỉ tiêu như kịch bản đưa ra, có khả năng trong giai đoạn ngắn hạn sắp tới, lượng cung tiền sẽ được bơm ồ ạt nhằm kích thích tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.
Tuy vậy, với tình hình làm ăn bi đát của lực lượng doanh nghiệp trong thời điểm hiện nay, liệu khi van tín dụng được mở ra, doanh nghiệp có đủ sức tiếp nhận vốn. Nền kinh tế đang đi vào giao đoạn ổn định và phục hồi sau cơn bệnh nặng, nếu bơm thêm liều thuốc bổ ồ ạt thì có khả năng cơn bệnh sẽ lại tái phát.
Một nhận định có thể đưa ra là hình như nền kinh tế đang không quá phụ thuộc vào lượng cung tiền của chính sách tiền tệ hay nhu cầu tín dụng của nền kinh tế không quá phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng thương mại.
Để minh chứng điều này, nhiều doanh nghiệp đã cho rằng, giờ vay được cũng chẳng biết để làm gì, đầu tư vào đâu cũng thấy cầu giảm mạnh. Tại sao vậy?
Xem lại chính sách tài khóa vừa qua, chi tiêu công đã giảm đột ngột kéo theo cầu giảm. Nợ của lĩnh vực tư nhân (khoản vay từ ngân hàng thương mại) hầu hết phục vụ cho cầu của chi tiêu công. Khi cầu giảm, tư nhân hết cửa làm ăn. Nợ ngân hàng tăng cao. Đầu tư tư nhân đang co cụm và phòng thủ.
Khi nền kinh tế không còn quá phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, doanh nghiệp đã chủ động huy động vốn bằng các hình thức khác. Đặc biệt, hoạt động cổ phần hóa và chuyển thành công ty đại chúng đang diễn ra khá mạnh, tạo ra kênh dẫn vốn về cho nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp.
Để kích thích tăng trưởng trong các tháng còn lại, cần khôi phục lại tổng cầu của nền kinh tế: Nới dẫn chi tiêu công, nới cung tín dụng, kiềm chế/kiểm soát giá cả các mặt hàng thiết yếu.
Cần lựa chọn doanh nghiệp sản xuất hàng thiết yếu và hàng hóa tiêu dùng cuối cùng nhằm thúc đẩy doanh nghiệp hạ chi phí sản xuất, giảm giá bán, tăng khối lượng bán nhằm tạo nên mặt bằng giá cạnh tranh thấp hơn.
Quan trọng là: Điện, xăng, khí đốt không nhảy múa.


Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Bất động sản, tan băng chưa?

Vẫn chưa có dấu hiệu nào của thị trường thể hiện băng đang dần tan. Đây là ngưỡng tâm lý tiêu dùng sau một giao đoạn ảm đạm của thị trường. Người tiêu dùng bất tin vào giá của thị trường, họ đang chờ giai đoạn giảm giá mạnh hơn.
Các gói kích thích cầu bất động sản đang được mở dần. Mục đích dường như chỉ để cứu mấy ông ngân hàng, bất động sản và các ngành đã ngốn tín dụng lớn. Các ông bất động sản đã vay một đống tiền từ ngân hàng nên chừ mấy chả bể nợ thì ngân hàng cũng toi.
Cái vòng luẫn quẫn của nên kinh tế các nước đang phát triển là vậy: vay nợ - ném vào bất động sản

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

HBB - Nỗi đau thâu tóm

Màn trình diễn số liệu nợ xấu của HBB trước thềm bị xóa sổ quả là ... vui. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu của HBB dính phen hỏa mù trong đống thông tin từ HBB và SHB cung cấp.
Dẫu có mù mờ đến mấy, cần nhận thấy rằng, có 1 ngân hàng bị nuốt chửng công khai. Từ nay xóa sổ HBB.
Nạn nhân thứ 3 của hoạt động tín dụng không kiểm soát nổi rủi ro thị trường.
Khi mà tính minh bạch của thông tin chưa được quy chuẩn thì việc mua bán cổ phiếu, đầu tư cổ phần vào một doanh nghiệp quả là ... bất an.

Chông chênh

Từ ngày mẹ mất, cứ mỗi sáng sớm mai tôi lại sợ cảm giác cuộc gọi của chị gái ở quê. Tôi sợ lắm khi tên người gọi là chị cả bởi ám ảnh cuộc gọi của chị khi chị gọi báo mẹ mất.


Sáng nào đi làm, cảm giác chông chênh vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi nhớ mẹ, thường mơ thấy hình ảnh của mẹ. Đêm qua, tôi mơ thấy đám tang tiễn đưa mẹ ra đồi, nấm mộ giữa triền cát mênh mông, hun hút nắng và gió.

‘Gia tài của mẹ là con

Dẫu cho đi hết nước non bến bờ”

Những giấc mơ của tôi như muốn níu thời gian quay lại, thời gian của tuổi thơ tôi, thời gian của tần tảo của mẹ, của mảnh vườn, luống rau, đám ruộng.

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Đã nới tín dụng, ai vay?

Thực chất của CPI tháng 4/2012 giảm không hẳn do lạm phát giảm mà, theo nhiều nhà phân tích, CPI do sức mua của người tiêu dùng đã cạn kiệt.
Sức mua tác động lên tổng cầu của nền kinh tế. Khi sức mua giảm kéo theo tổng cầu giảm nên CPI cũng tự nó .. tụt. Chả cần làm gì thì nó cũng tụt.
Về cơ bản, tổng cầu là nhu cầu (có khả năng tài chính để thanh toán) của toàn bộ nền kinh tế đối với hàng hóa cuối cùng. Nhu cầu của tổng cầu gồm nhu cầu trong nước và nhu cầu ngoài nước.
Nhu cầu nội địa bao gồm đầu tư của doanh nghiệp, tiêu dùng cá nhân, chi tiêu ròng của chính phủ.
Nhu cầu nước ngoài là nhu cầu xuất khẩu trừ đi nhập khẩu - xuất siêu hoặc nhập siêu.
Tổng cầu giảm sẽ xuất hiện giảm phát. Giảm phát sẽ gây nên tình trạng đình đốn hoặc suy thoái kinh tế.
Suy thoái hay đình đốn, nói chung, là căn bệnh khó chữa hơn lạm phát. Lạm phát có thể được nhanh chóng điều chỉnh bởi lượng cung tiền nhưng đình đốn, đơn thuốc nới lỏng định lượng chưa chắc cắt cơn.


Xem các báo cáo của các ngành, các hiệp hội doanh nghiệp, các hiệp hội nghề, hầu hết đều có một đề xuất chung chung “ngân hàng xem xét giảm lãi suất cho vay” hoặc “đề nghị chính phủ, ngân hàng nhà nước áp trần lãi suất cho vay giảm xuống để cho vay doanh nghiệp”.

Thông tin báo chí gần đây cũng đã đưa tin về việc hàng chục nghìn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đình đốn sản xuất, người lao động thiếu việc làm và nền kinh tế trở nên … đình lạm.
Tình hình chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ở Việt Nam trong hiện nay là lỗ. Lỗ chứ chưa đến mức phá sản. Tại sao lỗ?
1. Chi phí lãi ngân hàng:
Nguồn vốn cung cấp doanh nghiệp phụ thuộc vào tín dụng từ ngân hàng thương mại. Khi chính sách thắt chặt tiền tệ được thực thi, lãi suất tín dụng đẩy lên cao làm cho chi phí lãi suất của doanh nghiệp tăng lên. Đây quả là một gánh nặng tài chính của doanh nghiệp. Khoản chi phí này cứ như nợ đời vậy. Khổ.
Một khi thị trường/sức cầu giảm do lạm phát tăng thì không bán được hàng, doanh thu giảm nên lợi nhuận cũng đi tong. Vì vậy, lãi cứ đè lên đầu. Đến một ngày đẹp giời, không tiền trả nợ, thế là kêu phá sản. Còn lâu mới phá sản, để phát sản được, khó lắm.
2. Chi phí hoạt động của doanh nghiệp
Chi phí này tỷ như khấu hao, tiền lương tiền công, mua sắm thiết bị văn phòng, sửa chửa máy móc thiết bị, khuyến mãi quảng cáo, truyền thông, nộp thuế, phí và lệ phí…
Ngay cả các chi phí này, SME cũng có thể vay ngân hàng để thanh toán.

Tựu chung, nguồn cơn của việc SME đang kêu gào thảm thiết về lỗ, phá sản, ngừng hoạt động chính là "khủng hoảng tài chính" của chính doanh nghiệp. Trong cơn bĩ cực này, doanh nghiệp có vay thì cũng chỉ muốn đảo nợ, cơ cấu lại nợ, hoãn/dãn lịch nợ đối với ngân hàng.

Tổng cầu đã giảm, sức mua của thị trường đang rơi vào tình trạng "mong muốn", chưa thành cầu rõ rệt.
Lúc này, tổng đầu tư của lĩnh vực tư nhân đang co cụm, chờ thời, không dám manh động đầu tư vì sợ rủi ro lãi suất.
Đầu tư công thì đang chững lại. Chính sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đã liều thuốc đắng để cắt cơn lạm phát. Lượng cung tiền đột ngột giảm đã làm cho tổng cầu hụt hẫng. Đơn thuốc này đã làm được một việc lớn và chính đáng chính là ổn định lạm phát nhưng đã tác động đến tăng trưởng của nền kinh tế trong ngắn hạn. Cung cầu nó song hành với nhau nên khi tổng cầu giảm thì tổng cung cũng chững lại.

Tuy nhiên, như trên đã trình bày, tổng cầu bỗng dưng tụt giảm mạnh là cho tổng cung rơi vào dư thừa (biểu hiện bởi dấu hiệu hàng tồn kho). Thực chất tăng trưởng giảm do tổng cầu giảm chứ chưa phải do tổng cung đình đốn và đổ vỡ.
Doanh nghiệp kêu gào thảm thiết bởi không bán được hàng mà thôi. Nếu vẫn bán được thì vẫn vay, vẫn sản xuất, cung cấp hàng hóa.

Vậy, doanh nghiệp kêu thảm thì có nên cứu không?
Câu trả lời là KHÔNG và CÓ:
KHÔNG: Mỗi căn bệnh đều có nguyên do của nó. Căn bệnh trầm kha về lạm phát đã nổi tiếng thế giới có gốc rễ là lượng cung tiền quá lớn nên đẩy tổng cầu danh nghĩa tăng lên cao. Tăng trưởng của nền kinh tế tỷ như người bệnh mới chớm khỏi bệnh đã dí cho liều thuốc bổ cực cao. Cứ tưởng khỏe mạnh, đẹp hồng hào vậy nhưng chỉ cần vận động tí, thời tiết thay đổi tẹo, hoặc có đứa nó hẩy chút xíu là lăn quay ngay.
Để chửa lạm phát thì lượng cung tiền buộc phải giảm. Tăng trưởng giảm tóe loe. Thuốc đắng thì mới giã tật, cắt làm phát thì buộc giảm tăng trưởng. Do vậy, doanh nghiệp gào lên vì phá sản, lỗ, thiếu việc làm là BÌNH THƯỜNG.
Giai đoạn hiện nay, nếu kích cầu trở lại bằng tăng cung tiền, tăng chi tiêu công thì nguy cơ lạm phát lại quay trở lại. Nếu kích cầu, lạm phát mới có chút giảm đã làm nó chững lại, nó thiết lập một mức giá mới và cứ như vậy đều đều tăng lên. Lại lạm phát.
Cắt lạm phát là buộc nó dừng lại, giảm xuống để thiết lập một mức giá thấp hơn. Khi mức giá thấp hơn, cầu mới có thể manh nha hình thành.
CÓ: Nên cứu những doanh nghiệp sản xuất hàng hóa cuối cùng, hàng hóa có tình chất thiết yếu đáp ứng nhu cầu sống hàng ngày của người dân. Chú ném xèng vào bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ, nhập khẩu hàng xa xỉ thì .... lại chết có ngày.

Doanh nghiệp kêu là chuyện BÌNH THƯỜNG. Cái xứ mình nó vậy, khi sướng chả thấy kêu, chả thấy chia cho ai, khi khổ tí chút lại réo um lên, kêu gào thảm lắm.
Thị trường nào cũng có sự đào thải, anh làm kém thì anh chết. Chỉ có thể cứu doanh nghiệp khi trong tình hình lạm phát vẫn ổn định, lãi suất vay hợp lý, chi phí đẩy thấp.







Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

Ngậm ngùi hương bưởi tháng 3

Hồi tôi còn bé chứng lớp 7, lớp 8, bố mang về mấy cây bưởi bé tẹo đem trồng giữa vườn. Tôi hỏi bố:
- Cây này để làm chi rứa bố.
- Ừm, trồng bưởi để ăn quả và sau ni các con lớn lên, các con luôn vấn vương quê nhà.
Bé tí, tôi chỉ hiểu được ý ăn quả của bố, tôi lanh chanh:
- Khi có quả, bố dành cho con quả to nhất he?
Cây bưởi lớn lên cùng tôi với những ngày hè oi nồng, với màn mưa giăng mắc của mùa đông. Tôi lớn dần lên, thấy mẹ lụi cụi nhặt hoa bưởi, phơi khô rồi đem nấu nước để gội đầu. Thi thoảng, mẹ nấu nồi nước tắm hoa bưởi tắm cho anh em chúng tôi. Mỗi lần mẹ gội đầu bằng nước hoa bưởi, cả nhà được ngửi hương bưởi nồng nàn từ tóc mẹ. Mấy chị em chúng tôi còn dành nhau nằm ngủ với mẹ để được ngửi mùi hương hoa bưởi, cái gường bé tí nhưng nhồi đến bốn năm đứa con, mẹ nằm giữa kể chuyện làng quê.
Cứ đến tháng 3 hàng năm, dù đi xa ở đâu, tôi vẫn vấn vương hình ảnh mẹ lụi cụi nhặt từng bông hoa bưởi dưới cái nắng đã bắt đầu hầm hập của gió lào. Có hôm, mẹ dậy từ sớm, lấy mấy tấm cót lót dưới gốc bưởi, chờ cho những cơn gió ban mai rung nhẹ cành lá. Chỉ một cơn gió thoảng thôi, cơ man nào là cánh hoa bưởi trắng muốt rơi đầy gốc. Mẹ bảo, làm vậy để lấy hương bưởi ướp với mía.
Tháng 3 về, khi ánh nắng bắt đầu luồn qua màn sương giăng mắc trong sáng sớm, khi đêm về êm đềm, hoa bưởi lại tỏa hương nồng nàn, len lỏi vào tận sâu trong lồng ngực qua từng hơi thở. Mùi hương thoảng bay trong gió, nhẹ nhàng, mỏng manh là vậy nhưng sẽ níu chân nhưng ai đi qua.
Mẹ đi rồi, bố vẫn giữ thói quen nhặt từng cánh hoa bưởi vào sáng sớm. Sáng qua, bố gọi điện bảo, năm ni hoa bưởi to lắm, cánh hoa trắng muốt. Mẹ con chắc vui lắm.
Tôi lớn lên, chưa kịp cảm nhận được hương nồng nàn của hoa bưởi thì lại đã thấy ngậm ngùi. Mẹ mất, cánh hoa bưởi trắng muốt như vành khăn trắng trên đầu. Đứa cháu đích tôn thi thoảng vẫn gọi điện hỏi tôi "Khi mô mệ về rứa chú?"
Tôi chợt nhớ lời bố ngày tôi còn bé: trồng bưởi để con thấy vấn vương quê nhà.



Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

Phép thử tháng 3

Trung tuần tháng 3, NHNN đã nã mấy phát đại bác vào thị trường ngân hàng. Mấu chốt của vấn đề vẫn là lãi suất cho vay của các NHTM đang dần được giải quyết.
Phát súng đầu tiên là quy định trần lãi huy động xuống 1%, còn 13%/năm. Tuy nhiên, NHNN vẫn chơi cơ chế đường thẳng lãi suất chứ không chơi kiểu đường con lãi suất.
Quả này, các ngân hàng nhỏ, nhóm 3, 4 càng huy động càng khổ.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Giấc mơ ngân hàng

Tôi bỗng dưng mơ màng nghĩ: Một ngày đẹp trời, NHNN bỏ trần lãi suất huy động và áp trần lãi suất cho vay.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Quê hương

Tôi viết bài này vào ngày đầu tiên đi làm của năm mới Nhâm Thìn, khi ngồi ở Hà Nội mà tâm trí tôi cứ dáo dác chộn rộn nhớ về quê.
Quê hương, hồi còn là sinh viên, mấy đứa bạn hỏi: quê mày có gì đẹp. Tôi đáp, chả có chi, đẹp hết. Lớn lên rồi, chẳng thấy quê mình đẹp chi cả, thiệt. Nhưng chợt thấy lòng mình yên lành khi nhớ về quê.
Quê hương, cát nhiều chi lạ. Cát triền miên từ bờ biển cho đến bờ sông, từ con đường làng cho đến sân nhà. Mỗi lần về quê, áo quần vận thêm cát. Mà lạ, cát cứ trắng mênh mang, mỗi khi có mưa giông, cát chảy thành dòng. Cát in dấu trong tâm trí tôi ngay cả khi chào đời vì mẹ tôi sinh tôi ra trên triền cát.
Quê hương, gió Lào hun hút, khô nồng và đượm mùi mặn mòi của biển mỗi khi gió nồm. Biển vẫn cồn cào quanh năm, vẫn ru rặng phi lao đầu bãi những bài tình ca. Tuổi thơ tôi đượm những giấc mơ trưa dưới rặng phi lao rì rào gió.
Quê hương, là Mẹ. Mẹ cho tôi tất cả tình yêu thương của mẹ. Mẹ mất rồi, gia tài để lại cho tôi là tình yêu thương và nỗi nhớ nhung vô hạn. Trong tôi, mẹ là hình ảnh tất tảo, là dáng mẹ ngồi xắt rau heo bên giếng, là dáng mẹ đánh luống khoai bên vườn. Quê hương là Mẹ, nơi mỗi khi mẹ đi về là tiếng heo kêu, tiếng gà tục tác, là tiếng ăng ẳng của lũ chó.
Quê hương, là Bố. Là tiếng búa gõ vào chiếc đe khi bố đang tán lại chiếc nồi gang bị thủng. Quê hương, là tiếng bửa củi mỗi sáng sớm mùa hạ. Bố, những ngày đi biền biệt để lại mẹ con với làng quê, để rồi, khi bố trở về, bố mang về cả cảnh thâm u của núi rừng Trường Sơn, tiếng đì đúng súng nổ của chiến trường Nam Lào, là những câu chuyện rùng rợn về cảnh tang thương của chiến tranh.
Quê hương, nơi mỗi lần trở về, mấy người hàng xóm lại hỏi “Cu về lúc mô rứa, ăn chi chưa?”. Quê hương, mỗi khi về rồi đi, chị cả lại hỏi “Khi mô về lại” với ngân ngấn nước mắt.
Quê hương, là mỗi khi gặp bạn cũ, bạn lại nhắc “Mi ở ngoài nớ nhậu mần chi cho buồn, về đây nhậu tít mù luôn đi”.
Mỗi lần về quê hay mỗi lần đi xa, tôi cảm thấy lòng mình thuộc về nơi ấy, nơi quê nhà đang có những niềm yêu thương vô tận dành cho tôi.

Tết đầu vắng mẹ

Càng gần đến ngày tết, tôi càng cảm nhận về hơi ấm của mẹ truyền lại trong những ngày gần tết. Nhà ai dáng mẹ tất tảo đi về lo toan cho ngày tết cả gia đình. Ngày trước còn mẹ, những ngày gần tết mẹ thường gọi điện hỏi đã mua sắm đủ lễ cúng năm mới chưa, mua hoa chưa, lau dọn nhà chưa .... Việc gì mẹ cũng hỏi.
Năm nay, tết vẫn vậy, cây hoa đào trước nhà đơm bông nhưng có vẻ nhạt màu, gốc mai vàng bên nhà không trổ hoa, nồi bánh chưng thiếu đi vị mặn mòi.
Tết về quê, nhìn di ảnh của mẹ chợt miên man buồn, nổi nhớ mẹ khôn nguôi. Mẹ đi rồi, căn nhà thêm trống vắng, căn bếp dường như thiếu hơi ấm của mẹ. Con cún ngồi co ro ư ử chứ không chạy lăng quăng quanh chân như bao năm.
Tết về, bố lặng lẽ. Ông căm cụi lau dọn bát hương bàn thờ tổ tiên ông bà, mẹ. Nén hương chắp tay vái quá đầu như đè nặng lên vai bố. Bố trở nên lặng lẽ, đôi mắt u buồn và dáng vẻ mệt mỏi.
Con về, bố vui lên một chút nhưng rồi niềm vui chẳng kéo dài, những giọt nước mắt xót thương lại lăn dài trên khóe mắt. Tết này, bố một mình. Bố vẫn kể cho con nghe câu chuyện về những giấc mơ có mẹ trò chuyện cùng bố.

Mẹ ơi, vắng mẹ rồi đâu còn mùa xuân giăng mắc mưa phùn.

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Nước mắt mệ ngoại

Tôi vội vã trở về miền quê yêu dấu nơi có dòng tộc, họ hàng thân thích nội ngoại. Chuyến đi về quê nội cùng bố vợ mang lại cảm giác miên man khi chợt nhận ra, trong khoảng khắc chờ đón tết, ai cũng tất bật, lo toan nhưng việc quan trọng nhất vẫn là lễ tảo mộ. Quê tôi, cứ đến ngày tiễn ông táo lên trời là con cháu lại tụ tập đông đủ để xủi mả. Mồ mả, nhà thờ họ được quét dọn sạch sẽ để tưởng nhớ công ơn sinh thành của các bậc tiền nhân.

Trở về quê ngoại sau gần 4 năm chưa về, mệ ngoại đã 90 tuổi, vẫn nhớ đứa cháu ở xa thích món cá kho niêu đất, mệ bảo “Mi về răng không nói trước để mệ nấu”. Tuổi thơ tôi gắn liền với niêu cá kho của mệ. Cái thời nghèo khó vẫn đeo đẳng trong những giấc mơ của tôi. Hình ảnh vẫn còn trong tâm trí của tôi là bóng dáng mệ xách chiếc làn đi chợ về, tất tảo và vội vàng. Mệ lúc nào cũng vậy, lo cho chồng, cho cháu trước khi lo cho mình.

Tôi về, mệ khóc, những giọt nước mắt cạn khô từ khóe mắt, lăn dài trên gò má nhăn nheo, cằn khô của thời gian. Mệ bảo “Mẹ bây mất rồi, bố con bây xoay xở răng được, mệ mần mấy món đây rồi, bây đem vô mà ăn tết”.

Ngày mẹ còn sống, năm nào mẹ cũng về quê dịp gần tết. Bà là con gái cả nên lo toan cho ông, mệ luôn có một cái tết đầy đủ. Mỗi lần về, mẹ lại dắt chúng tôi đi thăm họ hàng, thắp hương cho mộ tổ, nhà thờ họ. Mẹ như thuộc lòng các con ngõ, đường ruộng.

Mệ ngoại bây giờ không phải là mẹ đẻ của mẹ tôi nhưng mệ đã nuôi mẹ tôi lớn khôn từ những đám ruộng, những luống khoai, vườn rau, từ làn khói bếp ban chiều, từ tiếng ì oạp nước lên của sông Gianh. Ngày dì tôi mất, mệ đớn đau nhìn số phận của con gái. Ngày mẹ tôi mất, mệ gục đầu bên bàn thờ tổ tiên khấn lạy vong linh bề trên xin được đi thay con gái. Có nổi đau nào tột cùng hơn nổi đau của người tóc bạc đưa tiễn người tóc xanh.

Gặp lại mệ ngoại, tôi chợt thoáng thấy bóng dáng mẹ tất tảo chợ về, khói bếp lại nhẹ nhàng luồn qua mái tranh vấn vương trên mái nhà.

Quê ngoại đó, mệ đây nhưng khói bếp đã nhạt nhòa. Mệ còn là còn cả miền quê ngoại trong tôi, còn cả tình yêu thương và man mác buồn tiếng bìm bịp kêu ngoài bờ sông đầy gió.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Gia tài của mẹ

Gia tài của mẹ là con
Mẹ cho con niềm yêu thương và nhớ mong mỗi khi nhớ đến mẹ.

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

Sắp đến 100 ngày mẹ mất

Khung trời từ ly đã xoay vần gần 100 ngày. Mẹ mất. Cảm giác chông chênh giữa đời không lúc nào nguôi. Dẫu biết rằng, không ai sống cả đời nhưng mẹ đi rồi mới hiểu cội nguồn nhớ nhung, thương tiếc.

Ngày mẹ mất, chị cả gọi điện nức nở “Em về nhanh lên, mẹ bị nặng lắm”. Sau cuộc gọi, tôi nghĩ ngay đến mẹ, trước mắt tôi là hình ảnh mẹ phảng phất trong nắng, là hình ảnh mẹ đội chiếc nón trong nắng chiều.

Mới đó mà đã 100 ngày. Thời gian đi qua chẳng chờ ai. Tôi chênh vênh trên lối đi của cuộc đời, miên man nghĩ về mẹ, về phận đời còn lại của mình.

Tôi không thể quên được hình ảnh của bố đứng trong nắng cuối thu trên triền cát mênh mang nơi mẹ an nghỉ. Vành khăn trắng trên đầu bố rung rung theo nhịp tâm sự của bố với mẹ. Mẹ đi rồi, để bố lại một mình. Giờ đây, bố mới bắt đầu cuộc sống với bao lo toan cơm nước.

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Tiếp thị cho đất nước – góc nhìn từ doanh nghiệp (Phần 2)

Ai có thể xây dựng nên thương hiệu quốc gia? Thương hiệu quốc gia không chỉ là biểu tượng của một cái gì đó hay một vật nào đó. Ví dụ, tượng Nữ thần Tự do không phải là thương hiệu của nước Mỹ mà đó chỉ là biểu tượng của Hoa Kỳ. Tương tự, nước Anh chỉ có biểu tượng là tháp đồng Hồ Big Ben/Xe buýt hai tầng màu đỏ...

Thương hiệu một quốc gia phần lớn gắn liền với một sản phẩm hoặc hàng hóa nào đó. Ví dụ, thương hiệu của Mỹ là hùng mạnh về kinh tế tài chính, nước Đức là sản xuất công nghiệp, nước Pháp là mỹ thuật, Tây Ban Nha là đấu bò, Nhật Bản là tính kỷ luật.

Tựu chung, thương hiệu quốc gia được hình thành nên bởi văn hóa của các doanh nghiệp. Các ông chủ doanh nghiệp áp đặt mục tiêu của mình lên hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp vươn ra thế giới cho đến ngày nay hầu hết là do ý muốn chủ quan và tham vọng của chủ doanh nghiệp. Lực lượng doanh nhân là khởi nguồn chính cho hàng hóa, dịch vụ của của đất nước đi ra với thế giới.

Nước Nhật sau chiến tranh chẳng ai biết là gì cả nhưng ông chủ Toyota đã làm được việc mang thương hiệu của hãng ra toàn cầu. Singapore được thế giới biết đến như là nơi giao thương, trao đổi hàng hóa từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương.

Có nhưng thương hiệu quốc gia có thể đi ra để tiếp thị cho thế giới hoặc là cầu nối để giao thoa của thế giới.

Bước đầu, Việt Nam đã khởi động chiến dịch xây dựng thương hiệu quốc gia cho riêng mình nhưng dường như đang bế tắc trong hướng tiếp cận khái niệm thương hiệu quốc gia. Ngay cả chọn biểu tượng cho đất nước cũng khó chứ chưa nói đến thương hiệu. Thương hiệu quốc gia có thể được điều chỉnh, thay đổi theo từng giai đoạn phát triển.

Với doanh nghiệp của Việt Nam, Hoàng Anh Gia Lai và Hàng không quốc gia Việt Nam đã bước đầu tiếp cận thị trường thế giới. Với Hoàng Anh Gia Lai, họ tiếp cận dòng vốn đầu tư của thế giới thông qua niêm yết trên sàn London. Vietnam Airlines tiếp cận thương hiệu của hãng thông qua quảng cái thương hiệu, dịch vụ hàng không qua quảng cáo trên các sân bóng của Ngoại hạng Anh.

Khách hàng thế giới biết đến Việt Nam khi hình ảnh đại diện của doanh nghiệp hiện diện trước ánh mắt họ. Họ biết đến Việt Nam qua các sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp. Chính các doanh nghiệp đã và đang bước đầu bước vào công cuộc kinh doanh toàn cầu với những hình ảnh đẹp, mang lại lợi ích cho khách hàng.

Tôi thấy rất vui khi Vietnam Airlines hướng ra thế giới với từ “Charming – Duyên dáng/quyến rũ/Mê hoặc”. Một dịch vụ hàng không thuộc danh mục các dịch có yêu cầu về kỹ thuật, an toàn bay... bậc nhất thế giới lại lựa chọn một hướng đi Duyên dáng là khá lý thú.