Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Chữ nào cho đời?

 
Chữ nào cho đời?
Bạn tôi rủ rê tôi ghé qua phố Văn Miếu xin chữ, hắn hào hứng lắm nhưng lại bị tôi phang một câu phủ phàng: "Từ khi hết đại học, ông đọc được mấy cuốn sách?". Hắn ngập ngừng rồi thú nhận: "Cơm áo gạo tiền nó đeo vào đầu rồi, làm đếch gì còn thú đọc sách như hồi trẻ con". Thế là cuộc hẹn của tôi và hắn bị huỷ bỏ, hắn còn ới thêm "Tôi qua ông rồi làm tí cay cay cho đời thấy ngọt ngào". All right.
Cứ mỗi lần tết về, đi qua khu phố Văn Miếu - Quốc Tử Giám, tôi lại nhớ đến bài thơ Ông Đồ của tác giả Vũ Đình Liên:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
«Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.»

Nhưng mỗi năm mỗi vắng.
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu...

Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy.
Ngoài trời mưa bụi bay.

Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

Trước tết, Hà Nội ra văn bản "quy hoạch" lại "phố Ông Đồ", người ta bắt các ông đồ đem lều chỏng, nghiêng bút vào ngồi trong khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám. Rộ được vài hôm, hẻo khách xin chữ, các ông đồ hiện đại lại dọn ra vỉa hè ngồi cho chữ. Những chữ ngoằn nghoèo, rồng rắn, long phượng, ngọ mùi cứ gọi là kỳ vĩ, ẩn dụ và nhuốm đầy khí kim tiền.
Ngày xưa, thời còn là xã hội phong kiến, nho học nổi lên như là một nét chính trong quản lý xã hội, nhiều người không được đi học chữ, một số ít người được đi học, thi đỗ đạt và làm quan, có địa vị trong xã hội. Đã đi học là phải có thầy dạy chữ. Xưa, học đâu có phải là Toán - Lý - Hoá - Sinh - Sử - Địa - ... như bây giờ mà chắc phải học mấy pho sách thánh hiền, viết chữ đẹp, gieo vần mấy câu đối, khai bút vài câu thơ, ngâm mấy bài vịnh, tính toán vài con số, dựng vài mưu đối nhân xử thế, kiến thức về luật pháp, lệ nước... Vậy là đỗ đạt, thế là thành quan. Thi mà làm thơ hợp ý vua quan thì đỗ đạt. Danh tiếng cả làng, cả họ.
Một vài người thầy dạy học trở thành Nhà Nho chứ không phải là thầy đồ. Thầy đồ chỉ là một phần rất nhỏ trong số lượng nhà nho/thầy giáo khi xưa. Những nhà nho được dân yêu mến, kính trọng là những người có trí tuệ, học thức, kiến thức cao. Họ có lối sống hợp với lòng dân, có đạo đức thanh sạch.
Xưa, mỗi độ xuân về, nhiều nhà mang con đến nhà thầy nho xin chữ. Cái chữ đi xin là chữ thể hiện ước vọng của bậc cha mẹ đặt hy vọng vào con cái. Xin được chữ rồi, lại được thầy giảng giải cho cái nghĩa, cái khí ẩn dụ trong chữ. Bộ chữ được viết ra có thể ẩn chứa trong đó cả cái lý, cái trí, cái nhân của người xưa. Không phải nhà nào đến xin thầy cũng cho chữ mà giai thoại với cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến là một hình mẫu về việc trọng người xin chữ.
Mấy năm trở lại đây, cứ dịp gần tết và đến hết rằm tháng Giêng, phố ông đồ ở Hà Nội lại đông nghẹt người đi mua chữ. Nhiều người coi đi mua chữ đầu năm là việc trọng đại, cần phải làm, mua được cái chữ là sung sướng lắm, lấy làm thoả chí rồi mang cái chữ về nhà, lồng khung kính đẹp trang trọng treo giữa phòng khách, ngắm nghía mãi không chán.
Không phải phần lớn những người đi xin chữ là theo trào lưu nhưng một bộ phận không nhỏ chẳng thể biết nghĩa của nét chữ mua được là gì. Quanh đi quẩn lại thì toàn chữ Lộc, Tài, Trí, Nhẫn, Phúc, Tâm...  Nay thì thêm cả thư pháp viết bằng tiếng Việt Quốc ngữ. Cứ nhìn vào chữ quốc ngữ theo kiểu thư pháp, vặn cổ nghiêng mình mãi mới đọc được. Hãi hết cả mắt. Cách đây độ bảy tám năm, hồi vợ tôi còn làm việc ở một hãng sản xuất máy in, một hôm vợ tôi hồ hỡi khoe "Anh thấy chưa, máy in công ty em giỏi cực, in được cả chữ thư pháp trên giấy dó". Tôi gật đầu, tài thật, tài thật. Mà đúng là cái máy in đó in được thật, nhìn xa cứ như viết ra bằng nét cọ bút lông.
Thời nay, có ai đi xin chữ mà biết gốc tích các ông đồ ngồi vỉa hè đấy chăng? Liệu rằng, người đang viết chữ kia có được trọng vọng, tài dày, đức cao, con cái gia đình thuận hoà như những bậc nho gia đời xưa. Liệu có ông đồ, bà đồ nào ở vỉa hè kia lại nỡ từ chối người mua chữ khi nhìn cái dáng, cái hình người mua chữ khó có thể xứng với nghĩa cái chữ sẽ viết ra. Tôi đã chứng kiến một ông đồ, khi tôi hỏi mua chữ Kiên thì ông phải lọ mọ tìm trên cái iPad mới cóng, một hồi sau lại bảo chữ Kiên này không có trong từ điển. Hình như, mỗi độ dứt đông xuân về, đoạn phố Văn Miếu Quốc Tử Giám lại trở thành cái chợ mua - bán cái chữ, thứ mà người ta hay vinh doanh nó là "một nét văn hoá đáng trân trọng của dân tộc". Cũng chả trách các ông đồ, bà đồ ngồi đó, với họ, chữ nghĩa thì cũng phải kiếm sống trước đã, đúng như câu "có thực mới vực được đạo".
Ngày xưa, cái chữ được thỉnh về nó chứa đầy ẩn ý, ước vọng và thành kính. Một tục lệ, một nét chấm phá cho mùa xuân càng thêm ý nghĩa. Nay, mấy câu thơ:
Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy.
Ngoài trời mưa bụi bay.
Có lẽ, không còn hợp nữa. Già - trẻ - gái - trai - váy ngắn - chân dài cứ nườm nượp đòi mua chữ. Có đứa còn ngồi vắt vẻo trên xe máy, phì phèo thuốc lá, lôi trong túi cái xì mát phôn ra dí vào mặt ông đồ rồi thét "Lão viết cho chữ lày, lăm chục nhá". Vãi thật.

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Những con đường của Tết


Tôi gần bốn mươi, cái tuổi của phảng phất hoài ước cổ và nhăm nhe thay đổi trước bao biến đổi của cuộc đời. Cả phần tuổi thơ tôi gắn liền với những cái tết ở miền quê, những cái tết vẫn còn đọng lại trong ký ức và vẫn đi qua trong những giấc mơ.
Nhiều người vẫn tự vấn và thốt lên rằng, tết nay chán quá, buồn quá, không như ngày xưa nữa. Họ buồn, họ vấn vương cho những gì đã mất và sắp đi qua cuộc đời họ bởi, nhiều người không còn giữ được chút hồn quê nhà, không còn hương vị tết xưa cũ. Đừng hỏi bọn trẻ tại sao lại coi cái tết như một kỳ nghỉ bởi chính cha mẹ bọn trẻ đã sớm rũ bỏ đi hồn cốt của chính mình. Ai đời, người lớn lên từ quê lại không thể gói được cái bánh chưng để dâng lên tiên tổ; họ không làm nổi một hũ dưa hành để tạo nên một món ăn đoàn tụ. Tết với họ, là ra đi, là nghỉ ngơi và tận hưởng. Họ đã thế và con trẻ sẽ làm theo cách của họ. Tôi đã đọc được đâu đó rằng, trẻ con, chúng chẳng bao giờ nghe lời người lớn nói mà chỉ làm theo những gì người lớn làm.
Tết quê, khi đám cải ngoài vườn bắt đầu trổ hoa, mẹ lại tất tảo đi về. Nhiều khi mẹ cứ lẩm bẩm, "răng mà nhanh rứa hè, chạp lại về rồi". Đó là những ngày bọn trẻ chúng tôi chuẩn bị đón tết. Tết với chúng tôi, chẳng phải là tấm áo mới hay miếng ăn ngon mà là tết của những trò chơi, của những lễ tục mà chúng tôi được tham gia.
Cứ sau rằm tháng chạp, người quê lại bắt đầu dựng cổng chào đầu ngõ. Cái cổng chào bằng mấy cây gỗ và được trang trí bằng rơm, lá thông, lá bạch đàn, có khi còn là lá dương xỉ. Tụi trẻ bọn tôi được tham gia hái lá, leo trèo, đứa nào đứa nấy hò hét ầm ĩ cả đường quê. Sau cổng chào là làm lại đường làng, quyét vôi các gốc cây, ngõ nhà, bờ rào. Chỉ sao một ngày, cả làng quê trở nên thơm mới lạ thường, con đường làng cả năm nhão nhoét thế mà trở nên cứng cáp, láng mịn tinh tươm. Tụi trẻ chúng tôi cứ ước chi khi lớn lên sẽ đổ nhựa con đường làng để đi học không bị trơn trượt.
Người quê hay chờ tết, chứ không phải đón tết. Họ dọn vén đường, ngõ, làm cổng làng để chờ tết, đó là cả một cuộc chờ đợi dài nhất trong năm. Chờ đợi của niềm hy vọng, của sự sẽ chia, của đoàn tụ và sum vầy. Những người con xa quê, dù có bộn bề đến đâu cũng vội vã trở về cho kịp bữa cơm chiều ba mươi. Tôi lớn lên, đi làm ở một doanh nghiệp vận tải, có năm, cái rét căm căm cuối chạp vẫn lao theo những chuyến hàng, những chuyến tàu biển cho kịp tiến độ. Đó là chiều ba mươi tôi được chờ đón. Những chuyến thiết bị cuối năm được giao xong đó là lúc tiếng gà rúc về chuồng, bọn chúng tôi ào ào dẫn cả đoàn xe đầu kéo về nhà để đón chiều cuối năm. Lúc đó cũng đã chẳng là chiều, đó là gần khuya 10 giờ tối. Bọn tôi cả gần trăm người lao về nhà, trong đêm tối qua ánh đèn pha, tôi thấy hình bóng của mẹ đứng cầm chiếc đèn pin đứng chờ ở trước ngõ. Tôi về, mẹ khóc. Mẹ thương chúng tôi vất vả cả năm nên vẫn chờ con về. Con về, kéo theo cả đàn con đồng nghiệp. Đó là một bữa tất niên, đó là một đêm giao thừa không thể quên. Đêm giao thừa của những đứa con xa nhà, đêm của đoàn tụ ngắn ngủi để chuẩn bị cho ra đi đón chào năm mới. Năm đó, chúng tôi trắng đêm trên bến cảng, trên công trường.
Chờ tết không chỉ chờ mong người dương gian mà còn chờ đón những người đã khuất. Quê nhà, cứ bận sau ông công ông táo là lại ra nghĩa trang, nghĩa địa vun vén lại mộ phần, dâng mấy tâm nhang gửi cho những người đã khuất. Ai cũng mong muốn mời được người thân đã mất sớm về nhà đón tết. Con đường từ một phần về nhà là con đường thân thuộc. Ba mươi tết, đó là ngày vĩ đại nhất mà tôi từng thấy trên cuộc đời này. Bữa cơm chiều ba mươi tràn ngập yêu thương và yên bình. Đó là ngày đoàn tụ, ngày chuẩn bị cho lễ Giao thừa - lễ lúc âm dương giao hoà, trời đất giao thời. Chiều ba mươi, quê tôi vẫn thi thoảng nghe tiếng mẹ già nhà ai đó nức nỡ xót xa, cánh cổng nhà vẫn mở và dáng mẹ gầy ngồi bên bậu cửa ngón con về. Con của các mẹ chẳng đi xa nhưng cũng chẳng gần, các con ở trong con tim của mẹ, họ là những người lính đã hy sinh trong cuộc chiến giữ đất cho dân tộc. Họ đã ra đi, đi mãi, họ trở về với đất của làng quê, về bên các mẹ nhưng cứ xa vời vợi. Xưa, bà nội tôi hay khóc trong chiều ba mươi, bà nức nở đến nghẹn ngào. Cứ thấy đứa con cháu nào về là bà lại nhớ, nỗi nhớ xót xa và ngóng đợi. Đêm ba mươi, bà không bao giờ ngủ, chỉ ngồi cửa ngóng đợi con về. Có người mẹ nào như bà nội tôi, gần 70 năm vẫn cứ đợi con về. Chú tôi, mang tên mình là liệt sỹ.
Tết giờ đã khác, ai không nhớ hai con đường trở về thì tết chẳng còn, sẽ là bơ vơ và không tìm thấy con đường trở về cho chính cuộc đời mình.

Món dưa cà hồn quê

Đi từ nam chí bắc của đất nước mình, ở đâu bà con đồng bào cũng có món dưa muối ngon miệng. Bà con muối đủ thứ như cà, cải bẹ, dưa chuột, củ cải, cà rốt, su hào, giá đỗ, bắp cải... Hầu như, các mẹ các chị ở quê ai cũng biết làm món dưa muối. Quê tôi, miền trung nắng gió, cứ mùa hè về là có món dưa hấu xanh muối ngon tuyệt. Người quê, không phải ai cũng muối dưa cà ngon, có người mát tay tốt vía thì ang/vại dưa cà đủ ngon và thơm đượm. Những người xấu vía, ác đức thì muối vại dưa muối trở nên khắm khú, kể cả họ cho tay vào lấy ra cũng làm cho cả vại trở nên hỏng. Quê nhà, cứ tết về là mẹ lại muối vại dưa cả vàng ruộm, chua chua mằn mặn để nấu canh chua hoặc dầm với tỏi, ớt, gừng, hạt tiêu, nước mắm lại trở thành món ăn đơn giản nhưng lại khó quên. Tôi đi nhiều, xa nhà lâu nhưng trong giấc mơ vẫn mơ về nồi canh chua mẹ nấu. Mà lạ, quê nhà, giữa mùa hè nóng nực mà ai cũng thích được húp bát canh chua nóng sốt. Bố hay bảo, làm bát canh của mẹ lại tỉnh cả người, mát cả bụng.
Tết này, bạn tôi biếu lọ dưa của kiệu muối. Mà năm nào hắn cũng chuẩn bị cho tôi một hũ. Hắn bảo, ăn đi, ăn dần để hồn quê còn mãi, để vấn vương đất nhà cằn khô nhưng đẫm tình người. Tết về quê, đến nhà bạn cũ, vợ bạn cứ bảo chồng, anh giữ bạn lại ăn bát cơm với canh chua cho ấm bụng rồi về. Chợt vui buồn lẫn lộn, vời vợi nhớ bát canh chua của mẹ.
Hà Nội mênh mông người với những đại siêu thị và minimart, gần tết, nhiều cô nhiều bà ào ra siêu thì hộc tốc mua vài hộp kim chi của xứ Triều Tiên, ăn vào xuýt xoa khen ngon tuyệt. Cũng lạ, xứ họ có mỗi của cải và bắp cải muối rồi cho thêm tí ớt vào nữa là thành đặc sản. Họ tài, họ làm thương hiệu Kim chi ra cả toàn cầu. Mấy bà, mấy cô ở thành phố nước mình, cứ tấm tắc khen ngon, nước mắt nước mũi dàn dụi khi vừa ăn kim chi vừa xem phim tình cảm dài tập của Hàn Quốc phát trên ti vi kênh dành cho các bà nội trợ và giúp việc. Chả biết họ chảy mũi vì cay hay vì thương cảm cho thân phận cuộc đời trên phim?!
Tết này, nhà đã vắng đi hũ dưa hành của kiệu, thiếu đĩa dưa cà muối mà thay vào đó là mấy hộp kim chi ngầy ngậy, đỏ áu và mùi vị thì khắm khú dị thường. Cái tủ lạnh đã bắt đầu bốc mùi kim chi khú lên rồi.
Tết về, mênh mang, man mác nỗi nhớ phong vị quê nhà, hương vị tết của dân tộc. Tết về, dơm dớp mùi bia nhập khẩu, rượu tây có mười mấy năm tuổi, đĩa trái cây xuất xứ từ âu mỹ và đĩa kim chi. Tết còn đâu vị quê hương, vị bản địa nơi đất ở.
Các bà, các mẹ hỡi ơi, bên cạnh đầu tư cho con gái nhiều kiến thức, bằng cấp thì cầm tay, chỉ việc cho các con giữ lấy nét xưa của dân tộc. Một hũ dưa cà muối cũng đủ níu kéo hồn cốt con cái trở về với mái nhà đầm ấm.
Các cô, các chị, hãy đừng vì địa vị, làm giàu hay tốn thời gian cho thẩm mỹ viện để làm đẹp mà quên đi cách muối một hũ dưa cà. Nồng đượm của hạnh phúc gia đình, sự đoàn tụ của các con và chồng chỉ có thể ở mâm cơm ngày tết, trong tiết háo hức của bữa cơm tất niên chiều ba mươi.